ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI ( tái bản p2)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI ( tái bản p2)

Bài gửi  nhuphong on Tue Sep 27, 2016 4:14 pm

1. Nhận biết về thân con người
Phật dạy thân con người là thân tứ đại: Đất, Nước, Gió, Lửa. Những thứ gì là chất rắn thuộc về đất, những thứ gì là chất lỏng thuộc về nước, những thứ gì chuyển động như máu chảy, không khí hít thở… thuộc về gió, thân nhiệt thuộc về lửa. Bát Nhã Tâm Kinh còn gọi thân người là thân năm uẩn: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn, là năm nhóm vật chất.
Sắc uẩn là xác thân sinh diệt.
Bốn uẩn thọ, tưởng, hành, thức thuộc về thần kinh hệ, là thần kinh trung ương. Thần kinh hệ còn một nhóm vật chất nữa là thần kinh thực vật.
a. Về thần kinh hệ
Nghiệp lực dẫn thần thức đi đầu thai. Tế bào thần kinh hình thành ngay khi trứng mới được thụ tinh và năng lượng thần thức nạp ngay vào các tế bào thần kinh đó. Tế bào thần kinh phân chia dần cùng với sự hình thành dần thân thể của hài nhi và phân chia đầy đủ thành hệ thần kinh hoàn chỉnh trước khi hài nhi chào đời. Thần kinh hệ tồn tại không sinh diệt từ khi hài nhi chào đời cho đến lúc chết. Nó chỉ bị rối loạn từng phần khi thân bị mắc bệnh hay suy nhược khi phải làm việc trí óc nhiều hoặc lúc về già.
Nó không nhận thức ăn từ môi trường đưa vào xác thân, trừ một số thần kinh trung ương phải làm việc về suy nghĩ và thấy nghe hay biết thì cần năng lượng lấy từ chất đạm mà thôi. Thần kinh hệ tập hợp hơn 2 tỷ tế bào thần kinh, có chức năng bảo quản và truyền đạt năng lượng thần thức hay thức thứ tám tới nhân tế bào sinh diệt để sinh ra tế bào mới. Tới các cơ quan và các tuyến nội tiết, làm cho nó hoạt động và còn điều hòa hoạt động của các cơ quan đó (chức năng của thần kinh thực vật). Nó còn sinh ra năm lớp mê là sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm là tâm mê hay vọng tâm của con người (chức năng của bốn nhóm thần kinh thọ, tưởng, hành, thức uẩn).
Tóm lại thần kinh hệ chỉ là công cụ bảo quản và phát huy tác dụng của thần thức đối với thân tâm của con người mà thôi.
b. Về xác thân sinh diệt
Theo di truyền học, khi còn trong bào thai xác thân sinh diệt hình thành từ tế bào hợp tử gồm (23 cặp nhiễm sắc thể) trứng đã thụ tinh.
Nếu hợp tử có 22 cặp nhiễm sắc thể thường và một cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì bào thai phát triển thành con gái. Nếu hợp tử có 22 cặp nhiễm sắc thể thường và 1 cặp nhiễm sắc thể XY thì bào thai phát triển thành con trai.
Tế bào hợp tử sinh sôi phát triển là nhờ vào nguồn năng lượng thần thức qua tế bào thần kinh thực vật và nguồn dinh dưỡng lấy từ máu mẹ qua nhau thai. Các tế bào sinh dưỡng mới sinh hợp thành các cơ, các mô, đến các cơ quan và thành xác thân sinh diệt hoàn chỉnh trước khi hài nhi chào đời. Sau khi chào đời, hài nhi phải hít thở không khí qua cửa mũi và nhận thức ăn qua cửa miệng. Thức ăn bất luận từ loại thực phẩm gì, nhưng qua tiêu hóa phải có đủ các chất chính: Chất bột đường (phân tử gluxít), chất béo (phân tử lipit), chất đạm (phân tử protit), muối khoáng và vitamin.v.v... Chất đường có tác dụng tạo năng lượng cho cơ bắp hoạt động đi đứng nằm ngồi . Chất béo dùng để dự trữ, nó còn có tác dụng sinh năng lượng chống rét và chuyển hóa thành đường. Còn chất đạm một phần tạo năng lượng cho 4% số tế bào thần kinh mà con người sử dụng cho hoạt động trí óc, phần còn lại cùng với một số chất, một số khoáng chất được đưa vào nhân tế bào để sản sinh ra tế bào mới. Theo Di truyền học thì quá trình sinh hóa tạo ra tế bào mới do sự điều hành của năng lượng thông tin (sao mã, giải mã). Năng lượng thông tin này do đại phân tử ADN bảo quản và truyền đạt. Năng lượng thông tin này chính là năng lượng thần thức vậy. Còn tế bào sinh dưỡng là phần tử sống nhỏ nhất tạo thành xác thân sinh diệt. Đã là phần tử sống thì phải dựa vào nguồn năng lượng nào đấy để tồn tại. Vậy là năng lượng nào? Và thâm nhập vào tế bào qua cửa nào? Khoa học hiện đại ngày nay về trường sinh học đã trả lời câu hỏi ở trên (trang 138 sách hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học) và xác định cửa đó là luân sa. Trích trang 33 - Sách Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học: “Cơ thể năng lượng sinh học quanh mỗi con người không ngừng vận động và tạo ra các điểm hút. Quan sát thực tiễn, các nhà khoa học còn nhận thấy cơ thể năng lượng sinh học tồn tại dưới dạng sóng vật chất. Giao thoa của 21 sóng năng lượng tạo ra đại huyệt (luân xa chính). Giao thoa của 14 sóng năng lượng tạo ra trung huyệt (luân xa phụ). Giao thoa của (n ≤ 7) sóng năng lượng tạo ra huyệt châm cứu (có tới 1000 huyệt).
Như vậy rõ ràng luân xa là cửa ngõ, nơi giao tiếp năng lượng của thân thể với môi trường.
c. Liên hệ giữa chủng tử nghiệp với gen di truyền có trong hợp tử ( trứng đã thụ tinh) của cha mẹ trong quá trình hình thành bào thai.

Trên bản đồ mười Pháp giới có nêu nhân quả để được sinh lại làm người như sau:
Giữ gìn ngũ giới
Dù ít, dù nhiều
Sang, hèn, thọ, yểu
Theo nghiệp cảm chiêu.

Ngũ giới là năm điều luật ngăn cấm Phật tử tại gia tránh làm điều ác (gây nghiệp nhân ác).
Năm giới gồm:
-   Một là: Không sát hại (từ bi không sát hại chúng sinh).
-    Hai là: Không trộm cắp (ngay thẳng không lấy của người).
-  Ba là: Không tà dâm (trong sạch, không quan hệ bất chính)
-     Bốn là: Không nói dối (chân thật, không dối gạt).
- Năm là: Không uống rượu (ngày nay thêm không dùng chất kích thích, ảnh hưởng đến sức khỏe và thần kinh, khi say dễ bị kích động làm điều tàn ác).
Khi sống ta gây nghiệp, năng lượng nghiệp nhân của ý nghiệp thiện ác được giữ lại trong tàng thức (bộ nhớ) của thức thứ 8 hay thần thức. Năng lượng nghiệp nhân của thân khẩu nghiệp thiện ác được giữ lại trong phân tử ADN của nhân tế bào sinh diệt được gọi là chủng tử nghiệp. Các chủng tử nghiệp trong phân tử ADN liên kết với từng chủng loại của gen di truyền. Trong từng chủng loại của gen di truyền, gen nào tốt (đẹp) liên kết với chủng tử nghiệp thiện. Gen nào xấu (ác) liên kết với chủng tử nghiệp ác.
Kinh Phật dạy “Khi chết muôn thứ mang chẳng được chỉ có nghiệp theo mình”. “Mình” là thần thức còn “nghiệp theo mình” gồm hai loại nghiệp chủ yếu là tích tụ nghiệp và cận tử nghiệp. Tích tụ nghiệp gồm chủng tử nghiệp tạo ra trong kiếp sống trước khi chết, cộng với chủng tử nghiệp của quá khứ. Cận tử nghiệp là nghiệp tạo ra trước khi chết. “Nghiệp theo mình” này khi sống là chủng tử nghiệp, khi chết theo thần thức rời bỏ xác thân dưới dạng năng lượng thông tin gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực này là động lực rất mãnh liệt nên nó dẫn thần thức đi đầu thai vào thân mới.
Kinh Phật còn dạy: “phi ân oán bất thành phụ tử”. Có ơn thì đầu thai làm con để đền ơn (hoặc trả nợ). Có oán thì đầu thai làm con để báo oán (hoặc đòi nợ). Nếu đầu thai để đền ơn thì nghiệp lực đó là thiện vì tâm thiện mới nghĩ đến đền ơn. Nghiệp lực thiện đó sẽ cảm chiêu nhiều với chủng tử nghiệp thiện của cha mẹ (cha mẹ giữ gìn ngủ giới nhiều). Nhờ chủng tử nghiệp thiện nhiều đó mà bào thai phát triển tốt và ra đời nhờ nghiệp nhân thiện tạo ra ở kiếp trước sẽ được hưởng phúc báo là giàu sang phú quý, mạnh khỏe sống lâu.
Nếu đầu thai để báo oán thì sẽ ngược lại với đền ơn. Đúng với nhân quả sinh lại làm người là “theo nghiệp cảm chiêu”. Kiến thức của nền văn minh cổ Ấn Độ thì gọi là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Còn theo Di truyền học: Nếu bào thai tập trung (hay chọn) được nhiều gen tốt của cha mẹ có trong hợp tử, sẽ phát triển thành người con xinh đẹp hơn, mạnh khỏe sống lâu hơn và có tương lai tiền đồ hơn cha mẹ (bản sao tốt). Nên tục ngữ có câu “con hơn cha là nhà có phúc”. Ngược lại bào thai tập trung nhiều gen xấu của cha mẹ, sẽ phát triển thành người con xấu hơn, ốm yếu, mạng yểu hơn cha mẹ. Đúng với câu tục ngữ “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”.
Qua nhận thức như trên thấy chủng tử nghiệp thiện ác và gen di truyền có trong hợp tử của cha mẹ, đều là nhân tố quyết định người con được hưởng phúc báo (bản sao tốt) hay phải chịu khổ báo (bản sao xấu). Nên nó đồng với nhau là một, là nguyên nhân dẫn đến kết luận về có sự giống nhau giữa đạo lý nhân quả luân hồi của Phật pháp với Di truyền học của khoa học hiện đại.
Nhưng tại sao có trường hợp nghiệp lực thiện dẫn thần thức đầu thai vào bố mẹ có chủng tử nghiệp thiện lại sinh ra người con hèn kém (bản sao xấu)? Bởi vì có sự khác nhau về chức năng giữa cận tử nghiệp và tích tụ nghiệp. Nghiệp lực của cận tử nghiệp có động lực mãnh liệt hơn động lực của tích tụ nghiệp, nên dẫn thần thức đến người có duyên ân oán để đầu thai. Còn nghiệp lực của tích tụ nghiệp mới “cảm chiêu” với chủng tử nghiệp thiện ác (hay gen tốt, xấu) của cha mẹ, để nhận quả báo “sang, hèn, thọ, yểu”. Thường thì cận tử nghiệp giống với tích tụ nghiệp (cùng thiện hay cùng ác) như những trường hợp nêu ở trên. Còn khác nhau chỉ là cá biệt, nó chỉ xảy ra khi chủng tử nghiệp thiện hay ác của hậu báo biến thành hiện báo trước lúc chết. Thí dụ: có người cả đời gieo nghiệp nhân ác nhiều hơn thiện (giữ gìn ngũ giới ít), nhưng trước khi chết (hấp hối), bỗng nhiên thấy hổ thẹn, muốn được sống tiếp để đền bù thì bị tắt hơi (chết), nên cận tử nghiệp đó là thiện. Nghiệp lực của cận tử nghiệp đó dẫn thần thức tìm đến đầu thai vào người mà mình chịu ơn, nhưng nghiệp lực của tích tụ nghiệp lại là ác nhiều hơn thiện sẽ cảm chiêu (chọn gen), với chủng tử nghiệp ác nhiều hơn thiện (gen xấu) của cha mẹ nên phải chịu khổ báo (bản sao xấu). Vì thế mới xảy ra trường hợp cha mẹ thuộc gia đình hiền lương lại sinh con ngỗ nghịch. Ngược lại cận tử nghiệp là ác tích tụ nghiệp là thiện sẽ xảy ra ngược lại như trên, nên mới xảy ra trường hợp cha mẹ hèn kém sinh con quý tử.
Qua phần phân tích hai hiện tượng như trên rút ra kết luận:
-   Hai hiện tượng xảy ra như trên thuộc về biến dị của Di truyền học.
-    Việc cảm chiêu với chủng tử nghiệp hay chọn gen tốt xấu của cha mẹ là chức năng của tích tụ nghiệp. Nghiệp lực của tích tụ nghiệp là thiện sẽ chọn được những gen tốt. Nghiệp lực của tích tụ nghiệp là ác, chỉ chọn được những gen xấu mà thôi.
Việc chọn gen tốt xấu này bắt đầu từ khi trứng chưa được thụ tinh, bởi vì mỗi lần giao hợp có tới chục nghìn tế bào tinh trùng, vậy tế bào tinh trùng nào được cùng tế bào trứng tạo thành hợp tử? Đó là công việc của nghiệp lực tích tụ nghiệp.
Ngoài việc chọn gen tốt xấu có trong tinh trùng lại còn chọn tinh trùng có nhiễm sắc thể giới tính X hay Y. Vì trong số tế bào tinh trùng, một nửa mang nhiễm sắc thể giới tính X, một nửa mang nhiễm sắc thể giới tính Y. Việc chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể giới tính phụ thuộc vào thần thức của người nữ hay người nam tham gia đầu thai. Nếu là nữ thì nghiệp lực tích tụ nghiệp theo cảm ứng giới tính chỉ chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể giới tính X, còn nam là Y. Cảm ứng giới tính này mang tính đặc thù nhưng cá biệt cũng có trường hợp thay đổi. Thí dụ: có một người nữ nào đấy thấy thân nữ quá khổ, như phải mang nặng đẻ đau, nuôi con vất vả, lại phải thọ nhận cái thân yếu ớt và còn bị sức ép tâm lý về tập quán trọng nam kinh nữ .v.v... nên phát nguyện mạnh mẽ cầu Hồng Ân Tam Bảo được đổi sang thân nam ở kiếp sau và dũng mãnh tu hành làm lành lánh dữ, chắc cũng có thể thắng được cảm ứng giới tính của nghiệp lực tích tụ nghiệp mà chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể giới tính Y để được mang thân nam ở kiếp sau. Còn đối với nam, nếu người đó trọng nam khinh nữ một cách cực đoan, lại có những hành động tàn ác đối với vợ mình và những người nữ khác, thì chắc sẽ phải chuốc lấy hậu quả là nghiệp lực tích tụ nghiệp sẽ chọn tinh trùng có nhiễm sắc thể giới tính X để chuyển sang thân nữ ở kiếp sau.
Xin trích câu chuyện trong tác phẩm Thức Thứ Tám của tiến sĩ Lâm Như Tạng để minh chứng việc đổi từ thân nam kiếp này sang thân nữ kiếp sau:
“Câu chuyện sau đây do bác sỹ Lan Stevenson- giáo sư đại học Virginia Hoa Kỳ sưu tầm và thuyết trình tại đại học Virginia:
Một cô gái Miến Điện (nay đã có gia đình) lúc sinh ra, các ngón tay trên bàn tay phải bị cụt gần sát bàn tay. Cô thường nhớ về tiền kiếp kinh hoàng đã thuật lại cho người nhà nghe như sau: Kiếp trước cô là một người đàn ông đã tạo nhiều đau khổ cho người vợ khiến người vợ phải tự tử. Người mẹ vợ rất căm giận quyết lập kế trả thù cho con gái mình. Một hôm bà thuê một tên giết mướn dùng một thanh kiếm chặn đường chém người rể độc ác kia, anh ta sợ hãi quá liền đưa tay phải ra đỡ và la lên: Trời ơi! Đừng giết tôi! Nhưng tên giết mướn vẫn không dừng tay, đưa một đường kiếm cắt đứt các ngón tay phải và đâm anh ta chết ngay tại chỗ. Giáo sư Lan Stevenson đã cho cử tọa xem hình chụp bàn tay và giải thích đó là dấu tích của sự luân hồi bị chặt đứt ngay từ kiếp trước.
Việc đổi từ thân nam kiếp trước thành thân nữ kiếp này qua chuyện kể trên tương ứng với biến dị của di truyền học.
Qua hai kết luận nêu trên cùng với kết luận của phần trước khẳng định có sự giống nhau giữa đạo lý nhân quả luân hồi của Phật với Di truyền học của khoa học hiện đại.
Thế nên đạo lý nhân quả luân hồi là một học thuyết khoa học, nó khách quan và công bằng tuyệt đối. Nếu gieo nhân thiện thì được hưởng quả phúc, gieo nhân ác phải chịu quả khổ ngàn vạn lần chẳng hề sai khác. Chỉ vì chúng sinh không biết, không hiểu, không tin nhân quả nên mới bị hai tên giặc tham, sân thúc đẩy gây nghiệp nhân ác mà phải chịu trôi lăn mãi trong biển khổ luân hồi từ vô thủy kiếp đến nay. Đức Phật vì thế xót thương mở ra pháp môn Thù Thắng cho chúng sinh tu hành, xả bỏ xác thân sinh diệt là xác thân vay mượn, là giả thân, Phật pháp gọi là giả tướng, để trở về với thật tướng là thân năng lượng, chính là báo thân Phật ở cõi Tịnh độ của đức Phật ADiĐà. Pháp môn Thù Thắng đó là Pháp môn niệm Phật vậy.
2. Nhận thức về tâm con người
a. Nhận thức về tâm mê của con người

Tâm mê của con người còn gọi là vọng tâm, kinh Lăng Nghiêm gọi là thức tâm phan duyên hay căn bản sinh tử, kinh Tứ Niệm Xứ gọi là tâm vô thường, luận Đại Thừa Khởi Tín của Tổ Mã Minh gọi là tâm sinh diệt.
Trích bài giảng “Món ăn tinh thần” trong quyển Khai thị của Hòa thượng Tuyên Hóa để thấy rõ tâm này.
“Linh minh giác tính, hiện đang hoạt động ở sáu căn. Tính thấy ở mắt, tính nghe ở tai, tính ngửi ở mũi, tính nếm ở lưỡi, tính xúc ở thân, tính biết ở ý. Kinh Lăng nghiêm gọi giác tính này là căn bản Bồ Đề. Bát Nhã gọi là căn bản trí.
Phật tính bản hữu này, nếu đứng quyền làm chủ nhân ông thì chính niệm hiện tiền, làm gì cũng tự tại, không chướng ngại. Chúng ta sẽ là Thánh, Hiền, làm Tổ làm Phật.
Ngu si ám chướng, chúng ta không an định sống trong tính Bồ đề, cứ theo tâm phân biệt. Suốt ngày đưa sáu trần ảo ảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) vào tâm (Si). Tôn sùng hai giặc tham sân làm chủ, tạo nghiệp sát đạo dâm vọng. Cảm quả luân hồi sinh tử trong sáu đạo Trời, Người, Atula, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục.
Thế là quên tính Phật vào cuộc đời ma Sách dạy một niệm không sinh, Phật tính hiện tiền Sáu thức vừa động, tâm bị che mờ.
Diệu minh bản hữu, thông thiên, triệt địa, viên mãn khắp mười phương, vẫn là thể chất của chúng ta, vẫn là nòng cốt sự sống của chúng ta. Nhưng mê hẳn, hiện nay chúng ta đang theo nghiệp báo, nhận thân máu mủ tanh hôi làm thể xác. Cả ngày tôi khổ, tôi vui, nhận thọ ấm là mình. Tôi yêu tôi ghét, nhận tưởng ấm là mình. Tôi thiện tôi ác, nhận hành ấm là mình. Tôi nhận tôi biết, nhận thức ấm là mình.
Bị giam chặt trong năm ấm như thế, dù chỉ một lời nói, một việc làm sơ hở liền thành trâu, ngựa, gà, vịt vv... Đáng thương nhất là những người tu hành. Một lòng muốn thoát ba đường ác. Chỉ vì không phân biệt hai căn bản sinh tử và Bồ Đề ở ngay nơi sáu căn mà cứ vô tình bỏ Phật theo ma.
Chỉ học Phật, biết tới trí tuệ bản hữu mới hy vọng tỉnh ngộ. Trong sáu đạo luân hồi, cõi Trời sung sướng quá, sáu căn gây mê quá mạnh nên khó tỉnh. Các cõi dưới khổ quá, tinh thần bị cùm trong một thần kinh hệ không phương tiện giác tỉnh. Chỉ có bộ óc con người có khả năng ngộ đạo. Thân người là cơ quan tiến đạo, nhưng nó có bệnh đói khát. Nếu không cho ăn uống thì mình khô sắc tụy, không thể thành đạo nghiệp. Chúng ta phải ăn uống nuôi thân, nhưng thân hoạt động được, bộ máy tuần hoàn, bộ máy tiêu hóa, bộ máy hô hấp… đều do thần kinh hệ điều hòa, mà chủ chốt toàn bộ thần kinh là Phật tính. Cho nên người tu phải tham thiền niệm Phật. Trí tuệ quang minh mới là thực phẩm chính yếu.”
- Hòa thượng Tuyên Hóa dạy: “Quên tính Phật vào cuộc đời ma”. Tính Phật chính là năng lượng thần thức tiềm ẩn trong toàn bộ tế bào thần kinh. Khoa học đã tính được hơn hai tỷ tế bào thần kinh mà con người mới sử dụng có 4% năng lượng thần thức có trong hơn hai tỷ tế bào thần kinh đó. Xin kể lại câu chuyện về Phật Thích Ca khi còn tại thế gian: “Trên đường đi giáo hóa chúng sinh, Phật dừng chân ngồi nghỉ tại một khu rừng. Ngài nhặt một nắm lá trên tay và bảo ông Anan (thị giả của Phật): Con có biết không? Những điều ta nói ra chỉ ít như nắm lá trên tay. Còn những điều ta biết, nhiều như lá của cả rừng đại ngàn này. Những điều Phật nói là ngôn từ thuộc về thức tâm dụ cho 4% số tế bào thần kinh mà Phật sử dụng khi mang thân người. Còn những điều Phật biết thuộc về trí tuệ Phật là năng lượng bản thể giác tính phủ trùm vũ trụ, thấu suốt tận cùng quá khứ (túc mạng minh), tận cùng vị lai (thiên nhãn minh).
Chúng sinh sử dụng quá ít số tế bào thần kinh cho sự thấy biết, nên sự thấy biết đó quá mê lầm, chính là bỏ Phật theo ma vậy!
- Ngài còn dạy: “…hiện ta đang theo nghiệp nhận thân máu mủ tanh hôi là thể xác (sắc ấm). Cả ngày tôi khổ, tôi vui, nhận thọ ấm là mình. Tôi yêu tôi ghét, nhận tưởng ấm là mình. Tôi thiện tôi ác, nhận hành ấm là mình. Tôi nhận tôi biết, nhận thức ấm là mình…”
Sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm mà Tổ dạy ở trên Phật gọi là 5 lớp mê lầm do 5 uẩn ngăn che trí tuệ mà sinh ra. Con người đã nhận 5 lớp mê lầm 5 ấm này là tâm tính của mình. Chính là vọng tâm sinh diệt hay tâm mê của mình vậy.
- Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: Quá trình tu hành mà phá sạch được ba lớp mê lầm: Sắc ấm, Thọ ấm, Tưởng ấm thì kiến hoặc, tư hoặc sẽ không còn. Tư hoặc chính là ba độc tham, sân, si. Ba độc tham, sân, si không còn dẫn đến nghiệp sạch tình không là xả bỏ được xác thân sinh diệt, trở về với thân kim sắc là ứng thân Phật. Người tu đã ra khỏi luân hồi sinh tử trong sáu đạo mà chứng quả vị thánh A la hán vậy.
b. Nhận thức về tâm giác vốn có của con người
Tâm giác hay tâm Phật vốn có của con người kinh Lăng Nghiêm gọi là Thức Tinh Nguyên Minh hay căn bản Bồ Đề. Luận Đại Thừa Khởi Tín của Tổ Mã Minh gọi là Tâm Chân Như. Duy Thức Luận gọi là thức A lại da hay thức Thứ Tám, chính là thần thức. Nó là trí tuệ Phật vốn có của con người vậy.
Năng lượng trí tuệ Phật vốn có của con người hay năng lượng thần thức nạp vào trong hơn hai tỷ tế bào thần kinh, chính là thần kinh hệ. Thần kinh hệ bao gồm bốn nhóm tế bào thần kinh là: Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, thuộc về thần kinh trung ương. Và một nhóm thần kinh nữa thuộc về thần kinh thực vật.
Chức năng của nhóm thần kinh thực vật là cung cấp năng lượng thần thức cho phân tử ADN trong nhân tế bào để điều hành sinh ra tế bào mới. Cung cấp năng lượng thần thức để điều hành và điều hòa các cơ quan, các tuyến nội tiết trong các xác thân sinh diệt (sắc uẩn).
Còn bốn nhóm tế bào thần kinh Thọ, tưởng, hành, thức uẩn thì có chức năng sinh ra năm lớp mê: Sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm là vọng tâm sinh diệt hay tâm mê của con người vậy.
3. Nhận thức bổ sung về thân, tâm con người
a. Vận dụng, liên hệ, đối chiếu giữa kiến thức Phật pháp, kiến thức khoa học và thành tựu khoa hoc hiện đại về 7 vầng hào quang bao quanh cơ thể con người đẻ lý giải lời dạy của Phật “Năm uẩn ngăn che trí tuệ, sinh ra năm ấm”
dẫn đến kết luận: Năm vầng hào quang bức xạ từ luân xa 2 đến luân xa 6 chính là 5 lớp mê sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm:
a/1. Thành tựu khoa học hiện đại về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể con người. (Trích sách Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học. Tác giả: Nguyễn Đình Phư do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành tháng 8/1995 từ trang 138 - 143)
1. Cấu trúc và hào quang của con người

Hệ thống hào quang được nhìn nhận từ xưa đến nay, có những khác biệt về tên gọi, màu sắc, số vầng. Hào quang có thể cao 2,5m và rộng 1m bao quanh thân người. Hình dạng hào quang giống hệt như một quả trứng. Trường hào quang là nơi giao tiếp năng lượng và thông tin của cơ thể và môi trường chung quanh. Hào quang được phân ra nhiều vầng khác nhau. Các vầng lẻ 1, 3, 5, 7 có màu rõ rệt, còn các vầng chẵn hơi mờ.
2. Cấu trúc cụ thể
Năng lượng sinh học bao quanh con người tạo ra bảy vầng hào quang khác nhau. Đặc thù của mỗi vầng quyết định hình thái của cơ thể sống. Trong phạm vi nghiên cứu một cách phổ cập, chúng ta quan sát bảy vầng hào quang theo thứ tự:
a. Vầng cảm giác
-   Vị trí: từ da ra 2,5cm, bao sát thân thể, có hình dạng như thân thể. Giữ vai trò như một cái khung gồm những vạch năng lượng để tế bào dựa vào tồn tại và sinh sôi phát triển.
-   Màu sắc: Màu xanh trong, nhạt, có khi xanh xám.
-    Đặc trưng: cảm giác thể chất, hoạt động thể chất.
b. Vầng cảm xúc
- Vị trí: Cách da 2,5 - 7,5cm
- Màu sắc: Màu thay đổi từ vàng chói đến xám xịt nhưng lại chứa tất cả các màu của cầu vồng.
- Đặc trưng: Cảm xúc, cảm nghĩ
c. Vầng tâm thần
- Vị trí: cách da 7,5 - 20,5cm
- Màu sắc: màu vàng chói
- Đặc trưng: Đời sống tư duy
d. Vầng tinh tú
- Vị trí: cách da 15 - 25cm
- Màu sắc: màu hồng là chủ yếu - Đặc trưng: tình cảm yêu thương
e. Vầng hình thái bổ sung
-    Vị trí: Cách da 15 - 60cm, vầng hình trái xoan
-   Màu sắc: màu trong suốt trên nền cô ban
-  Đặc trưng: thái độ, lời nói, trách nhiệm
f. Vầng thượng giới
-   Vị trí: cách da 60 - 82cm
-   Màu sắc: màu phấn là chủ yếu
-   Đặc trưng: trí tưởng tượng, suy đoán vượt qua giới hạn hữu hình
g. Vầng nhân quả
-Vị trí: tiếp nối vùng hình thái bổ sung, kích thước tùy thuộc bản thể
-   Màu sắc: gồm những sợi tơ vàng lấp lánh, cấu trúc vỏ dày 0,6 - 1,3cm, là nơi giao tiếp và phòng vệ năng lượng với môi trường, có tần số rung động lớn.
-    Đặc trưng: Bản thể vật chất và đời sống tâm linh là nơi chứa đựng sơ đồ cuộc sống, trải nghiệm trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Đóng vai trò như một màn hình display để trình chiếu các cuốn băng video - tế bào ghi trải nghiệm cuộc sống.
Như vậy, hào quang của con người phân thành bảy vùng, luôn biểu hiện cảm giác, cảm xúc, ý nghĩ, ký ức, những trải nghiệm cuộc đời, bộc lộ tính cách đặc trưng và trạng thái sức khỏe của người đó. Hào quang hình thành lớp vỏ giao tiếp và phòng vệ năng lượng cho bản thể.”
3. Hào quang và luân xa
Các sóng năng lượng sinh học tồn tại trong hào quang. Theo các nhà nghiên cứu thì sóng này là sóng đứng, chúng đan chéo nhau giao thoa tạo ra điểm hút năng lượng. Mối quan hệ giữa sóng năng lượng và hệ thống luân xa được mô tả như sau:
a. Luân xa chính
Là giao thoa của 21 sóng năng lượng sinh học, chúng nằm trên dòng chảy lớn theo mạch nhâm về mạch đốc.
b. Luân xa phụ
Là giao thoa của 14 sóng năng lượng sinh học. Luân xa phụ nằm trên hai lòng bàn tay và lòng bàn chân.
c. Các huyệt châm cứu
Là giao thoa của n (n<=7) sóng năng lượng sinh học. Chúng có tới hơn một nghìn điểm nằm rải rác khắp cơ thể.
Luân xa là cửa ngõ, nơi giao tiếp năng lượng của thân thể với môi trường. Chính tại mỗi luân xa, vầng vật chất tự phát sáng. Mỗi luân xa liên quan đến một vầng hào quang và có chức năng riêng trong sự thụ nhận, điều chỉnh năng lượng bảo vệ sức khỏe.
4. Mối quan hệ giữa các luân xa và các vầng hào quang
Quan hệ giữa luân xa và các vầng hào quang được kiểm nhận qua trải nghiệm tập luyện và quan sát thực tiễn:
a.  Vầng cảm giác liên quan đến luân xa 1
b.  Vầng cảm xúc liên quan đến luân xa 2
c.  Vầng tâm thần liên quan đến luân xa 3
d.  Vầng tinh tú liên quan đến luân xa 4
e.  Vầng hình thái bổ sung liên quan đến luân xa 5
f.   Vầng thượng giới liên quan đến luân xa 6
g.  Vầng nhân quả liên quan đến luân xa 7
Mức năng lượng sinh học ở mỗi luân xa liên quan đến độ sáng, màu sắc và kích thước của mỗi vầng hào quang. Vấn đề này chúng ta sẽ có dịp làm quen trong các bài giảng về bản chất ánh sáng của năng lượng sinh học.

a/2. Lý giải lời dạy của Phật “Năm uẩn ngăn che trí tuệ sinh ra năm ấm” dẫn đến kết luận: năm vầng hào quang bức xạ từ luân xa 2 đến luân xa 6 chính là 5 lớp mê sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm.
Lý giải về năm uẩn ngăn che trí tuệ.

Do bị năm uẩn ngăn che trí tuệ. Cụ thể gồm bốn uẩn thọ, tưởng, hành, thức chính là thần kinh trung ương. Trong đó thọ uẩn là nhóm tế bào thần kinh tích chứa năng lượng trí tuệ thần thức thuộc về thọ (cảm xúc cảm nghĩ). Tưởng uẩn là nhóm tế bào thần kinh tích chứa năng lượng trí tuệ thần thức thuộc về tưởng (tư duy, tình cảm). Hành uẩn là nhóm tế bào thần kinh tích chứa năng lượng trí tuệ thần thức thuộc về hành (thiện ác). Thức uẩn là nhóm tế bào thần kinh tích chứa năng lượng trí tuệ thần thức thuộc về thức (nhận biết). Và sắc uẩn là các cơ quan mắt tai mũi lưỡi cùng lớp da bọc ngoài của xác thân sinh diệt ngăn che trí tuệ. Nên con người không sống bằng tâm trí tuệ thần thức được, mà phải sống bằng tâm mê do trí tuệ thần thức bị năm uẩn ngăn che mà sinh ra.
Đó là năm ấm: Sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm.
Lý giải về năm ấm

Tâm con người vốn là trí tuệ thần thức, thấy nghe biết bằng thần thông trí tuệ rất vi diệu. Nhưng vì bị năm uẩn ngăn che sinh ra năm ấm là: Sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Là năm lớp mê lầm mà con người đã nhận năm lớp mê lầm năm ấm này là tâm tính của mình. Nhận cái thân thịt xương da máu hôi tanh là thể xác của mình (sắc ấm). Cả ngày tôi khổ tôi vui, nhận thọ ấm là mình. Tôi yêu tôi ghét, nhận tưởng ấm là mình. Tôi thiện tôi ác, nhận hành ấm là mình. Tôi nhận tôi biết, nhận thức ấm là mình. Lại do năm căn nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân tiếp xúc với năm trần sắc, thanh, hương, vị, xúc mà có thấy nghe hay. Năm thức nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân trong lớp mê thức ấm nhận biết những điều thấy nghe hay ấy và ký trong tàng thức (kho thức của thức thứ tám) gọi là pháp trần. Ý căn duyên theo pháp trần mà nhớ nghĩ. Ý thức trong lớp mê thức ấm dựa vào những nhớ nghĩ ấy của ý căn mà phân biệt, so đo tính toán v.v... chính là thức tâm phan duyên hay căn bản sinh tử mà Phật dạy trong kinh Lăng Nghiêm vậy.
So sánh đối chiếu giữa năm vầng hào quang từ vầng 2 đến vầng 6 bao quanh cơ thể con người với năm lớp mê năm ấm thấy chúng đều từ các tế bào thần kinh có trong thần kinh hệ hay các tế bào thần kinh của bốn nhóm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn bức xạ ra hay sinh ra. Cùng với sự giống nhau giữa đặc trưng của năm vầng với đặc trưng của 5 lớp mê năm ấm. Rút ra kết luận: Năm vầng hào quang từ 2 đến 6 chính là 5 lớp mê năm ấm vậy (so sánh đối chiếu ở sơ đồ).
Sở dĩ có năm vầng hào quang năm ấm là do năng lượng thần thức tiềm ẩn trong bốn nhóm tế bào thần kinh: Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn thuộc trung ương thần kinh bức xạ qua năm luân xa từ 2 đến 6 mà có. Còn vầng hào quang cảm giác, có liên quan đến luân xa 1 là từ nguồn năng lượng nào mà có vậy?
Xin trả lời câu hỏi này ở mục a/3
a/3. Nhận biết về thân Phật vốn có của con người.
Thành tựu khoa học hiện đại về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể con người cho biết về vầng hào quang cảm giác như sau: “Từ da ra 2,5 cm bao sát thân thể, có hình dáng như thân thể. Giữ vai trò như một cái khung gồm những vạch năng lượng để tế bào dựa vào tồn tại và sinh sôi phát triển.”
Vầng hào quang cảm giác liên quan đến luân xa 1, từ nguồn năng lượng nào mà có vậy?
Xin lý giải như sau: Trong Kinh Phật dạy, cái xác thân sinh diệt thịt da xương máu mủ của con người là giả thân hay giả tướng. Còn thật tướng là vô tướng.
Thật tướng
là thân chân thật hay thân Phật vốn có của con người. Còn vô tướng là thân không có hình tướng, mắt người không nhìn thấy được, nên là thân năng lượng, là thân chân thật hay thân Phật vốn có của con người.
Đối chiếu với đặc trưng của vầng hào quang cảm giác dẫn ở trên, thì vầng hào quang cảm giác bao sát thân thể, có hình dáng như thân thể, chính là thân năng lượng, thân chân thật hay thân Phật vốn có của con người vậy.
Lại vì vầng hào quang cảm giác liên quan đến luân xa 1 là thân Phật vốn có của con người, cho nên năng lượng của vầng phải bắt nguồn từ năng lượng của ba bản thể notron, proton và electron mà có, là như vậy.
a/4. Vận dụng nhận biết về thần thức và tâm Phật vốn có của con người và thân năng lượng là thân Phật vốn có của con người để hiểu về vấn đề sinh tử của con người và vấn đề nhập định của thiền sư đắc đạo.
1/ Thần thức và thân năng lượng đối với vấn đề sinh tử của con người.

Một con người ra đời bắt đầu từ thời điểm mà tinh trùng và trứng của bố mẹ gặp nhau tạo thành tế bào hợp tử. Cùng thời điểm đó, thần thức và thân năng lượng của con người đi đầu thai nhập thai. Thân năng lượng liền bao ngoài tế bào hợp tử, cung cấp năng lượng cho tế bào hợp tử này tồn tại (sống). Lại nhờ năng lượng thần thức và chất dinh dưỡng lấy từ nhau thai của mẹ, mà tế bào hợp tử sinh sôi và phát triển tạo thành bào thai. Năng lượng thần thức và thân năng lượng tiếp tục cung cấp năng lượng cho bào thai tồn tại sinh sôi và phát triển cho đến khi hài nhi chào đời, và suốt quá trình sống ở thế gian cho đến lúc chết, gọi là hơi dứt mệnh hết. Nhà y gọi là chết lâm sàng, Phật pháp gọi là mệnh chung.
Trong thời gian chết lâm sàng, thân năng lượng vẫn cung cấp năng lượng cho tế bào của xác thân, nên có trường hợp, do cố gắng cứu chữa khiến người chết sống lại được và sống tiếp, là do mệnh người đó vẫn còn, vì thế năng lượng thần thức lại cung cấp năng lượng cho các cơ quan hoạt động, nên hơi thở trở lại bình thường vậy.
Còn nói chung sau khi chết lâm sàng độ 6 - 8 giờ, cá biệt có trường hợp sớm hơn hoặc lâu hơn, thần thức và thân năng lượng sẽ rời khỏi xác thân, thân năng lượng không cung cấp năng lượng cho xác thân nữa, xác thân sẽ mất đi hơi ấm, hình hài biến sắc, toàn thân cứng đờ, gọi là chết hẳn.
Khi thần thức và thân năng lượng rời khỏi xác thân người chết, thân năng lượng vẫn còn hình dáng của thân người đã chết cho đến khi thần thức và thân năng lượng nhập thai, hình dáng của thân cũ mới không còn. Hình dáng thân năng lượng mới sẽ hình thành dần theo thân mới đang phát triển trong bào thai và có hình dạng của thân người sau khi ra thai ở kiếp sống mới.
Nếu người nào đó chuyên tu pháp môn niệm Phật là pháp tha lực, mà giữ được chính niệm (tín nguyện) cho đến trước khi lâm chung. Đến khi lâm chung sẽ được Phật A Di Đà và Thánh chúng tiếp dẫn thần thức và thân năng lượng là Phật vốn có của người đó vãng sinh Tịnh Độ. Còn thân giả là xác thân sinh diệt thì xả, bỏ lại thế gian. Ở Tịnh Độ, tu tiếp chứng được Pháp vô sinh nhẫn. Thần thức trở thành chân tâm Phật, thân năng lượng trở thành báo thân Phật. Người đó đã trở thành Phật rồi vậy. Đúng như lời xác quyết của Phật Thích Ca trong kinh Niệm Phật Ba La Mật. “... Bởi vậy mà Ta, Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn hôm nay trân trọng xác quyết rằng: Vãng sinh đồng ý nghĩa với thành Phật. Vì Vãng sinh tức là thành Phật.”
Thế nên Vãng sinh thành Phật là đã vượt khỏi quy luật sinh lão bệnh tử đối với con người vậy.
Một điều cần phải biết là mệnh. Vậy mệnh là gì?
Mệnh là mạng sống của mỗi người, nếu sống lâu gọi là thọ mệnh, chết sớm gọi là yểu mệnh. Nhưng mệnh do đâu mà có? Trong bản đồ mười pháp giới có ghi:
“Giữ gìn ngũ giới
Dù ít dù nhiều
Sang hèn thọ yểu
Theo nghiệp cảm chiêu”

Như vậy, con người sống lâu (thọ mệnh) hay chết sớm (yểu mệnh) là do nghiệp nhân thiện ác mà họ đã tạo ra ở kiếp sống trước quyết định. Nếu giữ gìn ngũ giới nhiều là tạo nhiều nghiệp nhân thiện ở kiếp trước, kiếp này sẽ mạnh khỏe sống lâu (thọ mệnh). Nếu giữ gìn ngũ giới ít là tạo ít nghiệp nhân thiện ở kiếp trước, kiếp này sẽ ốm đau chết sớm (mệnh yểu). Vì thế trong mười bốn điều răn của Phật, điều đầu tiên Phật dạy: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”. Đã gieo nhân ác thì phải chịu quả khổ, nên nhà y có câu: “Chữa được bệnh, không chữa được mệnh” là như vậy.
2/Thần thức và thân năng lượng đối với vấn đề nhập định của Thiền sư đắc đạo.
Lục Tổ dạy: “Bên ngoài tâm không duyên theo cảnh gọi là thiền. Bên trong tâm không động gọi là định.”
Vậy khi thiền sư ngồi thiền (tọa thiền) mà bên trong tâm không động thì gọi là nhập định. Khi nhập định tâm không động nên thân cũng không động, khiến cho các cơ quan của xác thân sinh diệt dừng hoạt động, dẫn đến tình trạng hơi dứt. Hơi dứt nhưng mệnh còn, nên thân năng lượng vẫn tiếp tục cung cấp năng lượng cho các tế bào của xác thân, vì thế thân thể vẫn nóng ấm, nhan sắc tươi tốt như thường trong thời gian nhập định.
Tại sao tâm không động, các cơ quan lại dừng hoạt động? Vì khi tâm động tức là khi sống bình thường, năng lượng thần thức tiềm ẩn trong các tế bào của thần kinh thực vật luôn cung cấp năng lượng cho các cơ quan của xác thân hoạt động. Cho nên khi thiền sư xả định tức tâm động trở lại, các cơ quan lại hoạt động, khiến cho hơi thở trở lại như thường vậy.
Trong Kinh Phật dạy: “Một niệm không sinh Phật tính hiện tiền, sau thức vừa động, tâm bị che mờ.” Vậy khi thiền sư nhập định, tâm không động nên không khởi niệm, tức một niệm không sinh. Vì thế ở trong định, Thiền sư thấy nghe biết bằng thần thông trí tuệ Phật rất vi diệu.
Xin trích Hư Vân tự truyện kẻ về Hòa Thượng Hư Vân nhập định trong thời gian bị bọn cướp vây chùa Vân Môn, đòi ngài phải đưa tiền trùng tu xây dựng chùa cho chúng, để thực tế hiểu về việc nhập định của thiền sư đắc đạo.
“... Trước ngày 01 tháng 03 Tân Mão (1951) Ngài 112 tuổi, họ bắt giam Ngài vào thất kín, đóng cửa, bỏ đói khát, không cho ra ngoài đại tiểu tiện, suốt ngày đêm chỉ để ngọn đèn tù mù, y như cảnh địa ngục.
Đến mùng 3, có khoảng 10 tên lực lưỡng kéo vào phòng, ép Ngài phải giao vàng bạc súng ống cho chúng. Ngài bảo là không có. Bọn chúng bèn ra tay đánh đập, ban đầu dùng gậy, sau dùng côn sắt đánh đến lỗ đầu, mặt Ngài đều chảy máu. Chúng vừa đánh vừa tra hỏi, tiếng dùi cui, côn sắt bổ xuống nghe rầm rầm. Ngài nhắm mắt không nhìn, ngậm miệng làm thinh như đang nhập định. Ngày hôm ấy bọn chúng tra hỏi Ngài đến bốn lần, lôi Ngài xuống đất. Mãi đến lúc thấy tình trạng Ngài quá nguy kịch, chỉ còn nước chờ chết, chúng mới bảo nhau lục đục kéo đi. Đợi đêm xuống, vị tăng thị giả mới lẻn vào đỡ Ngài lên giường.
Ngày mùng 5, được tin Ngài chưa chết, bọn chúng bèn trở vào phòng, thấy ông già ngồi nhập định như cũ. Chúng càng thêm căm tức, dùng côn sắt đánh đập và kéo ngài xuống đất, cả chục tên đi giày đinh leo lên người ngài ra sức giày xéo. Tai mắt miệng mũi Ngài đều xuất huyết, Ngài nằm dài trên mặt đất. Tin chắc Ngài đã chết rồi, chúng liền kéo nhau đi. Đêm xuống vị tăng thị giả lại nâng Ngài lên giường. Ngài ngồi ngay ngắn như cũ.
Sáng ngày mùng 10, Ngài từ từ nằm xuống theo thế cát tường (giống như tượng Phật nhập Niết bàn). Trải qua một ngày một đêm, không thấy động tĩnh, tăng thị giả bèn lấy bấc đèn đưa trước mũi Ngài, thấy ánh lửa không dao động bèn cho là Ngài đã viên tịch, chỉ có cơ thể là còn ấm, nhan sắc tươi tốt như thường. Đến sáng ngày 11 (16/4/1951). Nghe ngài cất tiếng nho nhỏ, thị giả đỡ Ngài dậy rồi trình Ngài rõ thời gian đã nhập định. Ngài chậm rãi nói với thị giả Pháp Vân: “Thần thức thầy đi lên cung trời Đạo Lợi nghe pháp. Thật là cảnh giới thiền định sâu xa khổ vui đều xả! Thuở xưa lúc Ngài Hám Sơn Tử Bá thọ hình cũng tương tự như cảnh giới này. Những kẻ chưa chứng ngộ không thể diễn tả thay được...”
Thời gian nhập định của thiền sư lâu hay mau, thần thông trí tuệ cao hay thấp, tùy thuộc vào mức định mà Thiền sư đã chứng.
Trong phạm vi thế gian, có bốn mức định từ thấp đến cao như sau: Không xứ định, thức xứ định, vô sở hữu xứ định, phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Ở bốn mức định này, công phu tu hành của Thiền sư chưa hóa giải được sạch nghiệp nên mệnh vẫn còn, vì thế khi mệnh hết, thân năng lượng không cung cấp năng lượng cho tế bào của thân sinh diệt nữa, Thiền sư vẫn phải chết. Nhưng vì các Ngài có thần thông trí tuệ, biết được khi nào mệnh hết nên chủ động, tự tại trước cái chết, cho nên không gọi là chết mà gọi là tịch vậy.
Xin trích dẫn truyện kể về việc tịch của tổ Vô Ngôn Thông ghi trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử lược do Thượng tọa Thích Mật Thể biên soạn.
“Nói đến tổ Vô Ngôn Thông tức là nói đến sơ tổ của phái thiền tông thứ hai nước ta. Ngài họ Trịnh, quê ở Quảng Châu (Triết Giang bây giờ). Tính Ngài điềm đạm ít nói, nhưng sự lý gì cũng đều thông hiểu, nên người ta mới đặt danh hiệu cho Ngài là Vô Ngôn Thông.
Một hôm Ngài đương lễ Phật thì gặp một vị thiền sư đến điểm hóa cho Ngài, rồi đưa Ngài đi tìm Mã Tổ mà tham học. Nhưng mới tới Giang Tây đã nghe tin Mã Tổ tịch rồi, hai Ngài bèn đưa nhau đến bái yết Bách Trượng thiền sư (đệ tử của Mã Tổ) xin học.
Bấy giờ có một vị tăng trong lớp học hỏi Bách Trượng thiền sư rằng:
- Thế nào là pháp môn đốn ngộ của phái Đại Thừa?
Bách Trượng thiền sư dạy rằng:
Tâm địa nhược thông tuệ nhật tự chiếu nghĩa là: Nếu tâm địa được thông thì mặt trời tuệ tự nhiên chiếu sáng.
Nghe được câu ấy, Ngài Vô Ngôn Thông tự nhiên ngộ đạo. Rồi Ngài về Quảng Châu trụ trì ở chùa An Hòa. Năm canh Tý niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 đời nhà Đường (820), Ngài qua Việt Nam trú ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chọn ngày ngồi xoay mặt vào vách mà thiền định. Như thế đã mấy năm mà không ai biết, duy chỉ có vị sư ở chùa đó là Cảm Thành thiền sư thì đem lòng kính trọng và thờ làm thầy.
Một hôm không bệnh gì, Ngài đòi tắm rửa rồi tịch. Bấy giờ là niên hiệu Bảo Lịch đời nhà Đường (826).
Trước khi tịch, Ngài gọi Cảm Thành thiền sư đến bảo rằng:
“Ngày xưa Tổ sư là ngài Nam Nhạc, khi sắp tịch, có dặn lại mấy lời rằng:
Tâm vô sở sinh, pháp vô sở trụ. Nhược đạt tâm địa, sở trụ vô ngại. Phi ngộ thượng căn, thậm vật khinh hứa” (nghĩa là: Hết thảy các pháp đều tự tâm sinh, tâm nếu không sinh, pháp không chỗ trú. Nếu hiểu tâm địa ấy, thì làm việc gì cũng không trở ngại. Cái tâm pháp ấy, nếu không gặp được bậc thượng căn, thì chớ có truyền bậy). Nay ta cũng dặn lại ngươi câu ấy.
Nói xong Ngài chắp tay lại mà tịch. Cảm Thành thiền sư rước Ngài lên hỏa đàn, rồi thâu hài cốt nhập tháp thờ Ngài ở núi Tiên Du tỉnh Bắc Ninh vậy.”
Nếu Thiền sư đắc đạo mà đã hóa giải được sạch nghiệp gọi là nghiệp sạch tình không thì sẽ chứng được mức định cao hơn mức định phi tưởng phi phi tưởng xứ, goi là diệt tâm định. Ở mức định này Thiền sư đắc đạo đã ra khỏi luân hồi sinh tử mà chứng quả vị A la hán.
Do nghiệp không còn, nên mệnh cũng không còn, chỉ còn thân năng lượng mãi mãi cung cấp năng lượng cho xác thân sinh diệt mà thôi. Vì thế bậc A la hán trụ thế bao nhiêu lâu hay nhập định ở thế gian bao nhiêu lâu, là tùy nguyện của các Ngài vậy.
Xin trích sách Hư Vân Tự Truyện kể về tôn giả Maha Ca Diếp nhập định (Ngài Ca Diếp được Phật Thích Ca trao cho y bát làm Tổ đầu tiên của Thiền Tông Ấn Độ). “Quang Tự thứ 15 - Kỷ Sửu (1889) - 50 tuổi.

nhuphong

Tổng số bài gửi : 18
Location : normal
Registration date : 12/08/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết