ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI ( tái bản p1)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI ( tái bản p1)

Bài gửi  nhuphong on Tue Sep 27, 2016 4:11 pm

Cư sỹ Như Trụ biên soạn
ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI
(Tái bản lần 1, có sửa và bổ sung)


NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
Phật lịch 2560 Dương Lịch 2016
LỜI NÓI ĐẦU

Tôi đã đọc sách “Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học” của tiến sĩ Nguyễn Đình Phư. Sách đã được hội đồng khoa học trung tâm đào tạo CEFIN thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam chọn làm giáo trình huấn luyện ứng dụng năng lượng sinh học, nhằm nâng cao hiểu biết và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Sách đã tập hợp khá đầy đủ những thành tựu khoa học và các công trình nghiên cứu ứng dụng năng lượng sinh học. Lại đề xuất những phương pháp đào tạo, huấn luyện rất mới mẻ, đã và đang thực hành có hiệu quả về cách chữa bệnh không phải dùng thuốc. Liên hệ giữa nhận thức về nội dung cuốn sách với kiến thức khoa học và Phật học là nguyên nhân khiến tôi biên soạn bài: “Đạo Phật và khoa học hiện đại”. Bài biên soạn nhằm chia sẻ với bạn đồng tu về Pháp môn Niệm Phật, với độc giả có duyên với Phật Pháp để cùng hiểu về: Đức Phật, Đạo Phật và Pháp môn Niệm Phật. Đó là mục đích của tôi khi biên soạn bài này vậy.
Nam mô A Di Đà Phật
MỤC LỤC
I. Khoa học hiện đại phát triển tới đâu, ở đó đã có Đạo Phật........................................................................... 9
II. Trong kinh Hoa nghiêm Phật chỉ rõ thể tính của năng lượng bản thể giác tính (Phật tính)................................................................................................ 15
III. Từ kinh Lăng Nghiêm thấy ra được nguyên nhân xuất hiện chúng sinh khắp Pháp giới................................................................................................... 31
IV. Vận dụng Phật Pháp và khoa học hiện đại để nhận biết thân tâm con người...35
1. Nhận biết về thân con người..................................... 37
a. Về thần kinh hệ................................................................... 38
b. Về xác thân sinh diệt..................................................... 39
c. Liên hệ giữa chủng tử nghiệp với ghen di truyền có trong hợp tử ( trứng đã thụ  tinh) của cha mẹ trong quá trình hình thành bào thai........................ 42
2. Nhận thức về tâm con người..................................... 52
a. Nhận thức về tâm mê của con người......... 52
b. Nhận thức về tâm giác vốn có của con người................................................................................................................. 58
3. Nhận thức bổ sung về thân, tâm con người 59
a. Vận dụng, liên hệ, đối chiếu giữa kiến thức Phật pháp, kiến thức khoa học và  thành tựu khoa học hiện đại về 7 vầng hào quang bao quanh cơ thể con người để lý giải lời dạy của Phật............................ 59
b. Thành tựu khoa học hiện đại về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể con người đã làm sáng tỏ đạo lý nhân quả luân hồi của Phật là chân thật, khách quan và khoa học............................................................. 87
c. Nhận thức về sự khác nhau giữa chúng sinh hữu tình là con người và chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật...................................................................... 128
V. Pháp môn niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật................................................................................................... 135
1. Pháp môn niệm Phật là pháp tha lực về hào quang năng lượng trí tuệ Phật........................................... 135
a) Sơ lược tiểu sử của Phật A Di Đà và xuất xứ của Pháp Môn Niệm Phật........................................................ 135
b) Nội dung của đại nguyện 13, 14 (trích kinh Vô Lượng Thọ do cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập)...... 136
c) Nội dung của đại nguyện thứ 18................... 140
d) Thành tựu khoa học hiện đại về 7 vầng hào quang bao quanh cơ thể con người và kiến thức về bản chất sóng năng lượng sinh học đã làm sáng tỏ pháp môn niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật và việc hồi hướng công đức niệm Phật là chân thật, khách quan và khoa học.............................................................................. 145
e) Điều kiện để người tu Pháp môn niệm Phật được Phật A Di Đà tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc là chính niệm tín và nguyện.................................................. 149
f)    Người tu pháp môn niệm Phật giữ được chính niệm (tín, nguyện) cho đến trước khi lâm chung. Đến khi lâm chung được Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc..152
g)  Sơ đô Nhân Duyên Qua cua Pháp môn Niệm Phât.................................................................................................................. 157
2. Trong thời kỳ Mạt Pháp chỉ có pháp môn niệm  Phật là pháp môn duy nhất, Phật độ chúng sinh  phàm phu giải thoát khỏi biển khổ luân hồi sinh tử và tu tiếp thành Phật.............................................................. 158
I. Khoa học hiện đại phát triển tới đâu, ở đó đã có Đạo Phật.

Trong Phật Pháp có khái niệm về chúng sinh. Vậy chúng sinh là gì?
Số nhiều, số đông gọi là chúng. Số nhiều số đông sinh ra (tạo ra) mới có gọi là chúng sinh. To như dãy núi, nhỏ như hạt bụi. Lớn như con voi, bé như con kiến. Cao như ngọn cây, thấp như ngọn cỏ… Đều là chúng sinh cả.
Chúng sinh chia làm hai loại chính: Chúng sinh vô tình, khoa học gọi là vật chất vô sinh. Chúng sinh hữu tình, khoa học gọi là vật chất hữu sinh. Lại còn có chúng sinh vô hình và chúng sinh hữu hình.v.v... Phần tử nhỏ nhất của vật chất vô sinh là phân tử. Phân tử vẫn là chúng sinh vì còn do nguyên tử cấu tạo nên (Thuyết Phân tử - Nguyên tử). Nguyên tử vẫn còn là chúng sinh vì còn do hạt nhân và electron (điện tử) cấu tạo nên (Thuyết Cấu tạo Nguyên tử). Hạt nhân nguyên tử vẫn còn là chúng sinh vì còn do nơtron và proton cấu tạo nên (Thuyết Cấu tạo Hạt nhân Nguyên tử).
Chỉ còn nơtron, proton, electron nó không từ cái gì sinh ra (tạo ra) nên không phải là chúng sinh mà thôi.
Nơtron, proton, electron là năng lượng bản thể cấu tạo nên vũ trụ. Nó có thể tính riêng biệt: Nơtron không tích điện (trung hòa điện), nó tập trung khối lượng của cả nguyên tử, mỗi nơtron có khối lượng là 1 đvC. Proton tích điện dương, mỗi proton tích 1 đơn vị điện tích dương (+1). Electron tích điện âm. Mỗi electron tích 1 đơn vị điện tích âm (-1).
Vì là thể tính riêng biệt nên gọi là tự tính. Kinh Lăng Nghiêm Phật gọi là Pháp giới tính. Bát Nhã Tâm Kinh Phật gọi là tính không.
Thế nên, Bát Nhã Tâm Kinh có đoạn “Này Xá Lợi Tử sắc (vật chất) chẳng khác không (năng lượng), không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.
Này Xá Lợi Tử! Tướng “không” của vạn pháp, không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Cho nên trong chân không không có nhãn nhĩ…”

Trong kinh Lăng Nghiêm đoạn nói về đại địa, Phật mô tả như sau: “Ông hãy xét cái tính của đại địa to thì làm đất liền, nhỏ thì làm vi trần cho đến lân hư trần, do chẻ chất cực vi là sắc tướng nhỏ tột ra thành bảy phần mà thành. Nếu chẻ lân hư trần nữa thì thật là tính hư không.
A nan. Nếu cái lân hư trần đó chẻ ra thành được hư không thì biết hư không cũng sinh ra được sắc tướng…”.

Như vậy đối chiếu với thành tựu thực nghiệm của khoa học hiện đại thì:
Vi trần là sắc tướng nhỏ tột chính là phân tử.
Lân hư trần
chính là nguyên tử.
Tính hư không
chính là năng lượng bản thể của nơtron, protonelectron.
Bát Nhã Tâm Kinh và Kinh Lăng Nghiêm Phật nói cách đây gần hai nghìn sáu trăm năm. Cho đến thế kỷ thứ 20 nhà bác học vĩ đại Anhxtanh mới tiên đoán về sự tương đương giữa vật chất và năng lượng: “Vật chất là năng lượng cô đặc lại. Năng lượng là vật chất phân tán ra.”
Và Anhxtanh đã phát biểu: “Khoa học hiện đại phát triển tới đâu, ở đó đã có đạo Phật.” Nhờ khoa học hiện đại khám phá ra 3 năng lượng bản thể nơtron, proton và electron, con người mới hiểu được nguồn gốc cấu tạo nên vật chất vô sinh (chúng sinh vô tình). Còn nguồn gốc sinh ra vật chất hữu sinh (chúng sinh hữu tình), khoa học hiện đại chưa khám phá ra được.
Nhưng kinh Lăng Nghiêm Phật nói: Pháp giới tính duyên khởi ra chúng sinh vô tình và hữu tình khắp Pháp giới (vũ trụ). Trong Pháp giới tính đó ngoài ba năng lượng bản thể nơtron, proton và electron (thuộc năng lượng vật lý) còn có năng lượng bản thể thứ tư. Đó là năng lượng bản thể giác tính.
Tính thấy tính biết đúng sự thật về nhân sinh và vũ trụ (năng lượng tâm linh). Kinh Hoa nghiêm gọi là Phật tính. Bát Nhã Tâm Kinh gọi là tính chân không. Trong sách Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học tiên đoán là năng lượng thông tin.
Tại sao lại gọi giác tính là Phật tính?
Đức Phật Thích Ca thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề, người Ấn Độ thời đó gọi ngài là Bútđa. Nghĩa của từ Bút đa là giác. Người Trung Quốc gọi ngài là giác giả và chuyển âm của từ Bútđa là Phật Đà, bỏ chữ Đà còn lại chữ Phật.
Phật là giác, nên giác tính cũng là Phật tính vậy.
Thành Phật là trở về với Pháp giới tính (bản thể tuyệt đối). Nên tâm của Phật là năng lượng bản thể giác tính (Phật tính) phủ trùm Pháp giới (vũ trụ). Thân của Phật trở về với năng lượng bản thể của proton, nơtron và electron có trong thân của chúng sinh vô tình và hữu tình khắp Pháp giới, nên gọi là Pháp thân.
Đức Phật nói: “Như vàng kia lấy ra từ quặng. Thành vàng rồi, vàng không trở lại thành quặng được nữa. Cũng như thế, Phật là do chúng sinh tu thành. Thành Phật rồi, Phật không trở lại thành chúng sinh được nữa”. Thế nên thành Phật là trở thành đấng Vô Thượng Giác hay Đấng giác ngộ Vô Thượng, không còn là chúng sinh nữa. Những vấn đề trình bày ở trên là để hiểu về Đức Phật. Còn thế nào là đạo Phật? Đạo Phật là con đường tu hành thành Phật, con đường tu hành này như thế nào sẽ đề cập tới ở phần cuối bài.
II. Trong kinh Hoa nghiêm Phật chỉ rõ thể tính của năng lượng bản thể giác tính (Phật tính).
Thành Phật rồi, Phật mới hiểu và chỉ rõ thể tính của năng lượng bản thể giác tính gồm tám chữ:
Linh (linh thiêng), Minh (sáng biết), Đổng (rỗng rang), Triệt (thông thấu), Trạm (trong trẻo), Tịch (vắng lặng), Thường (còn), Hằng (lâu).
Xin trích lời chú giải tám chữ này từ kinh A Di Đà Sớ Sao: “Linh là tính linh giác (khôn biết). Minh là trí sáng suốt. Mặt trời, mặt trăng tuy có ánh sáng nhưng không được gọi là linh thiêng vì là vô tình. Nay chỉ trong bản tính sáng suốt rất hay lạ khó lường, với sự sáng suốt ấy, không thể lấy chi so sánh cho cùng nên gọi là linh và minh. Nghĩa là vừa khôn thiêng vừa sáng biết.
         Đổng, Triệt là thông suốt, đổng là sựthông suốt cực điểm. Mặt trời, mặt trăng tuy chiếu khắp nhưng không thể soi thấu vật trong chậu úp. Thế là thông suốt mà chưa được hoàn toàn thông suốt vì còn bị chướng ngại. Nay tính linh minh đây soi khắp đất trời, thấu trong vàng đá, bốn phương trên dưới không hề chướng ngại. Vì là bản tính sáng suốt thông thấu, không chỗ nào là chẳng thông suốt như Thiên nhãn thông, Tha tâm thông. Cái thông đây không phải là như đối với sự ngăn cách mà nói rằng thông, nên gọi là Đổng Triệt.
Trạm là không nhiễm ô, Tịch là không lay động. Đại địa tuy tịch nhưng không thể bảo là trạm vì còn nhuốm màu chiến tranh, núi lở đất động. Nay chỉ có bản tính rất vắng lặng, trong sạch vì không cặn bã. Sự vắng lặng ấy không thể lấy chi so sánh cho cùng tận nên gọi là trạm tịch.
Hằng
là hằng lâu, Thường là sự hằng lâu cực điểm. Đại địa tuy bền chắc nhưng không tránh khỏi kiếp hoại. Thế là lâu mà chưa thật là lâu. Nay trạm tịch đây, với trước từ vô thủy, kéo sau vẫn vô chung, suốt xưa, suốt nay không hề biến đổi, bởi vì thường còn mãi mãi, không bao giờ chẳng thường, chẳng phải như cái thường đối với cái tạm mà nói rằng lâu, nên gọi là Thường Hằng.”
Do thể tính của bản thể giác tính như vậy, nên trí tuệ chân tâm Phật gồm có bốn trí: Thành sở tác trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tính trí và Đại viên kính trí, Thành sở tác trí là trí tuệ muốn cái gì là cái đó hiện ra, không muốn nữa nó tự biến đi.
Diệu quan sát trí là trí tuệ quan sát vi diệu gồm có lục thần thông: như túc mạng thông là trí tuệ biết được mạng sống của mình, của người nhiều kiếp về quá khứ.
Tha tâm thông là trí tuệ biết được ý nghĩ của người khác.
Thiên nhãn thông là trí tuệ thấy biết rất xa xuyên qua từng vách lòng đất. Thấy biết cảnh giới hữu hình và vô hình. Thấy biết những điều xảy ra trong tương lai..v.v. và Thiên nhĩ thông là trí tuệ nghe biết thấu suốt xa gần.
Thần túc thông là trí tuệ tạo ra thần lực, khả năng biến hóa khôn lường như đằng vân, phân thân, v..v.
Lậu tận thông, đã tận diệt lậu hoặc là kiến hoặc và tư hoặc.
Các bậc thánh từ A La Hán trở lên đã có trí tuệ Diệu quan sát trí, tức 6 thần thông. Nhưng đạt đến quả vị Phật thì Túc mạng thông trở thành Túc mạng minh (thấy biết mạng sống tột cùng quá khứ). Thiên nhãn thông trở thành thiên nhãn minh (thấy biết tột cùng vị lai). Lậu tận thông trở thành Lậu tận minh (tận diệt được lậu hoặc là vô minh hoặc). Và có đủ 5 nhãn (mắt): nhục nhãn (mắt người), thiên nhãn (mắt trời), tuệ nhãn (mắt của Alahán), pháp nhãn (mắt của Bồ Tát) và Phật nhãn (mắt của Phật).
Bình đẳng tính trí là trí tuệ bình đẳng tuyệt đối, không còn phân biệt ta, người, chúng sinh vì đồng chung bản thể vậy.
Đại viên kính trí là trí tuệ siêu việt thấy đúng biết đúng, tột cùng sự thật về nhân sinh và vũ trụ nên gọi là vô thượng giác.
- Theo Phật pháp, tâm của con người tạo nên bởi tám thức:
(1)   Nhãn thức (cái biết do mắt thấy).
(2)   Nhĩ thức (cái biết do tai nghe).
(3)   Tỵ thức (cái biết do mũi ngửi).
(4)   Thiệt thức (cái biết do lưỡi nếm).
(5)   Thân thức (cái biết do thân xúc).
(6)     Thức thứ sáu được gọi là Ý thức (cái biết do ý căn nghĩ ngợi) chính là tâm thức.
(7)   Thức thứ 7 gọi là Mạtna thức (thức chấp ngã) vừa là ý vừa là ý căn.
(Cool     Thức thứ 8 là A lại da thức, còn gọi là thần thức, chính là tâm trí tuệ hay tâm Phật vốn có của con người. Kinh Lăng Nghiêm gọi là thức tinh nguyên minh, thức còn giữ nguyên tính Phật.
Nên mới có câu Phật tại tâm là như vậy.
Đặc tính của 8 thức được Đại sư Trần Huyền Trang, đời nhà Đường bên Trung Quốc thể hiện qua bài kệ như sau:
“Anh em tám chú, một chàng si* (thức thứ 7)
Riêng thức thứ 6 thật linh ly** (ý thức)
Năm chú ở ngoài lo buôn bán***
Làm chủ trong nhà đệ bát y” (thức thứ 8 hay thần thức)

Ghi chú:
* Chàng si: si là si mê, sinh ra phiền não, tham, sân, thúc đẩy thân khẩu gây ác nghiệp.
** Thật linh ly: khôn ngoan, lanh lợi, tính toán, phân biệt v.v...
*** Năm chú ở ngoài lo buôn bán: Năm chú ở ngoài là 5 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, 5 thức này nhận biết những điều thấy, nghe hay do năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân duyên theo năm trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, rồi đưa những nhận biết này vào ký trong tàng thức (bộ nhớ) của thức thứ 8 tạo ra Pháp trần. Những pháp trần này ví như những món lãi về tiền của. Vì thế mới gọi năm thức ở ngoài lo buôn bán là như vậy.
Đặc tính của tám thức này còn đặc trưng bởi bốn chữ: Minh, ký, ức, trì. Minh là sáng biết. Ký là ghi lại trong tàng thức (kho thức). Ức là nhớ lại. Trì là giữ lại trong tàng thức.
Quá trình tu hành thành Phật, tám thức này chuyển dần thành bốn trí. Tu chứng quả A la hán, năm thức: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân thức chuyển thành Thành sở tác trí. Thức thứ sáu chuyển thành Diệu quan sát trí. Tu tiếp chứng Pháp Vô Sinh Nhẫn, thức thứ bảy là Mạtna thức chuyển thành Bình đẳng tính trí. Tu tiếp chứng quả vị Phật, thức thứ tám A lại da chuyển thành Đại viên kính trí.
Khả năng siêu việt tiềm ẩn trong tâm con người, khoa học ngày nay đã đề cập tới. Trích trang 26 - 27 sách Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học:
“Con người mới khai thác được 1% năng lượng của vũ trụ, và đối với bản thân mình thì chưa quá 4% khả năng của bộ não”.
Ngoài trí thông minh, kỹ năng kỹ xảo, con người còn có nhiều khả năng tiềm ẩn khác mà khoa học giáo dục hiện nay chưa có khả năng phát huy lên được. Những khả năng tiềm ẩn ấy là:
a. Thần giao cách cảm: Là khả năng thông tin của các cơ thể sống không dùng phương tiện vật lý.
Khả năng thần giao cách cảm có thể được dùng vào công tác ngoại giao, đối tác làm ăn, trong quân sự.
b. Nhìn xuyên không gian và thời gian: Là khả năng nắm bắt được sự kiện xảy ra trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai ở mọi lúc, mọi nơi.
Khả năng thấu thị được ứng dụng vào ngành sinh học định vị, khoa học tự dự báo… Có ý nghĩa đối với cuộc sống.
c. Đoán và đọc ý nghĩ của người khác: Là khả năng nhận biết ý nghĩ của người khác, thậm chí bành trướng ý thức, buộc người khác hành động ngoài ý muốn của họ.
Khả năng này được ứng dụng trong thôi miên chữa bệnh, trong việc tìm đối tác làm ăn, ngoại giao
d. Hiệu ứng toàn lực và toàn thức:
- Hiệu ứng toàn lực: tương tác giữa các vật chất làm tan biến và tái tạo vật chất không bằng lực vật lý. Tạp chí Vật lý có uy tín trên thế giới (Physical Review Letter 3 - 1993) có đề cập đến khả năng làm tan biến một con người thành các hạt siêu nhẹ và tái tạo tại một nơi khác.
- Hiệu ứng toàn thức: là khả năng tự có trí thông minh, sự hiểu biết không cần học, nhất là trong lĩnh vực tính toán, ngoại ngữ.
e. Chữa bệnh không dùng thuốc: Có nhiều phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Ở đây chúng ta đề cập đến khả năng chữa bệnh bằng năng lượng sinh học, ở các mức khác nhau: xung, sóng và màu sắc năng lượng…” Những hình ảnh trình chiếu về khả năng siêu việt của Tề Thiên Đại Thánh trong phim Tây Du Ký chính là mô tả thần thông trí tuệ Phật, nhưng ở mức độ thấp (chưa chứng A la hán). Vì thế Tề Thiên Đại Thánh hay đến Nam Hải cầu Bồ Tát Quan Âm đến giúp.
Xin trích một số truyện kể về việc sử dụng thần thông của Đức Phật Thích Ca và các vị Thánh Tăng: Truyện kể về Đức Phật đi khất thực: Một hôm Đức Phật đến khất thực tại nhà ông trưởng giả (nhà giàu). Khi mới đến cửa nhà, một con chó đang nằm trong gậm giường chạy bổ ra sủa rất dữ dội. Phật để chó sủa một lúc mới lẩm bẩm (nói nhỏ) thuyết pháp cho nó. Thế là chó ngừng cắn, cúp đuôi đi vào nằm lại trong gậm giường. Vừa lúc chủ nhà mang cơm ra cúng Phật, thấy được cảnh ấy. Con chó sau khi nghe Phật thuyết pháp, nó nằm lì không chịu ra ăn uống nữa. Phật quán thấy con chó đã chết và được siêu thoát mới trở lại gia đình để khất thực. Phật vừa tới cửa, chủ nhà chạy ra nói những lời rất nặng: “Mấy hôm trước ông nói gì với con chó nhà tôi mà sau đó nó không chịu ra ăn uống và đã chết? Nó là con chó trông nhà rất tốt, tôi rất quý nó. Thế mà vì ông, nó chết. Ông còn quay lại đây làm gì nữa?”. Phật nói: “Con chó ấy chính là bố ông đấy. Bố ông làm được nhiều tiền mà chẳng dám tiêu, lại chẳng cho ai, giúp ai. Có bao nhiêu thì mua vàng bạc tích lũy dần rồi cho vào lọ chôn ngay dưới gậm giường của mình, lúc sắp chết tiếc của không nói cho con cháu biết. Sau khi chết đầu thai vào con chó của nhà mình, ngay khi còn bé nó đã nằm tại nơi chôn lọ vàng để canh giữ. Không tin, ông đào lên sẽ rõ. Ông còn tham lam bỏn xẻn hơn cả bố ông đấy. Hãy lấy bài học của bố ông để sửa mình.” Chủ nhà sau đó đào lên, thấy đúng có lọ vàng như Phật nói.
Một số kinh khi Phật nói, Phật cũng vận dụng thần thông, phóng hào quang qua đỉnh đầu, tạo thành một màn hình cực lớn, trình chiếu những cảnh diễn ra để minh họa. Trích một đoạn trong kinh Lăng Nghiêm: “Phóng hào quang khắp thị hiện
Lúc đó đức Thế Tôn từ nơi nhục kế phóng ra trăm thứ hào quang báu, trong hào quang hiện ra hoa sen báu ngàn cánh, có hóa thân Như Lai, ngồi trên hoa sen. Trên đỉnh phóng ra mười đạo hào quang bách hảo! Trong mỗi đạo hào quang đều hiện ra những vị Kim Cương Mật Tích. Số lượng bằng mười
số cát sông Hằng, sách núi, Cẩm xứ khắp cõi hư không. Đại chúng ngửa mặt lên xem, vừa yêu vừa sợ, cầu Phật thương xót che chở, nhất tâm nghe đức Phóng Quang Như Lai, nơi vô kiến đỉnh tướng của Phật, tuyên nói Thần chú…” Truyện kể về Hòa thượng Hư Vân, một thánh tăng Trung Quốc. Ngài sinh năm 1840, thọ trên 120 tuổi. Trong cuốn Hư Vân tự truyện có ghi: Ngài vận dụng thần thông trí tuệ để giải quyết một số việc khó. Trích một chuyện (trang 423- 425) tựa đề:
Cảm ứng “Khoảng tháng sáu năm Dân quốc thứ 33 (1944) lúc san mặt bằng bắt đầu xây dựng điện Thiên Vương (Tổ đình Vân Môn), tại phía hữu của trai đường hiện nay có một cây chương già rễ cây chằng chịt ăn sâu vào lòng đất. Thân cây có chu vi khoảng hai tầm (mười sáu thước Tàu), cao khoảng vài trượng, lá che rợp đến nửa mẫu. Thân cây rất nặng lại nghiêng về phía điện Tổ. Nếu chừa cây này lại thì không tiện cho công trình xây mới, nhưng nếu chặt ngã thì e tổn hại nhiều mặt. Bởi vì phía tây bắc của cây là điện Tổ cũ, phía đông bắc là Tăng liêu, phía tây nam là Đại điện cũ cùng Tam môn, chỉ có phương đông nam là không có trở ngại. Nhưng sức nặng của thân cây lại nghiêng về phía ngược lại. Khi chặt cây phải mất nửa tháng, càng đốn nó càng nghiêng về phía tây bắc, ngôi nhà cũ như điện Tổ, Đại điện càng thêm nguy khốn. Đại chúng hoảng sợ, bối rối tìm cách cứu vãn tình thế. Có người đề nghị dùng dây cáp kéo nó về phương đông nam, có người bàn dùng cọc chống ở phía tây bắc. Có người nói phải hạ cái nhà cũ đã. Nghe bàn tán, Sư chỉ cười bảo: “Hãy để đó, hãy theo kế hoạch cũ mà đốn thôi, đừng có lo lắng hay rụt rè chi cả.”
Mỗi ngày trước khi mặt trời lặn, Sư đều đích thân chặt vài rìu. Lâu ngày nó nghiêng về phía tây bắc, mặt tổ điện càng thêm bị đe dọa.
Một hôm sau giờ ngọ trai, Sư dẫn Tăng tục lên điện niệm Bồ Tát Quán Thế Âm như thường lệ, vừa nhiễu Phật xong, Sư ngồi kiết già trên chiếc ghế dài sắp ở mặt trước phía đông tây. Gió lớn bỗng nhiên nổi lên, rung chuyển cả mái ngói, đại chúng biết cây đại thọ sắp đổ, sợ bị nó đè. Chỉ thấy Sư điềm nhiên ngồi kiết già như thường lệ, không chút dao động, không hề phòng bị chi cả. Trong phút chốc có tiếng ầm nổi lên, đất động nhà xiêu, bụi bay mù trời, không còn phân biệt rõ chi cả. Lát sau biết cây đại thụ đã ngã mà chưa đè sập điện Tổ, đại chúng mới định thần sắc, đi ra ngoài xem, thấy cây đại thọ đổ về hướng đông nam, ngược lại với khuynh hướng thường ngày của nó. Các phương khác đều vô ngại. Đại chúng bàn tán xôn xao, ai cũng bảo là Hòa thượng có thần lực không thể nghĩ bàn. Lúc bấy giờ biên giả cùng cư sĩ Hoàng Nhật Quang đang có mặt tại hiện trường, tận mắt thấy được sự thật này.”
Một chuyện khác kể về Hòa thượng Tuyên Hóa, một Thánh Tăng Trung Quốc, hoằng pháp tại Mỹ từ năm 1962 đến 1995. Trích trong quyển Khai thị trang 48 - 50.
“Khi còn ở Đông bắc (Trung Quốc), vì phải xây chùa Tam Hoa, tôi vào thôn trang kiếm xe chở vật liệu. Đến đâu cũng trả lời: Không có xe, không có thời giờ. Bỗng một cô tới hỏi: Con tôi bệnh nặng, bác sĩ đã chối không chữa cho nữa, nhà chùa có cứu được không?
Tôi đáp vì cô không hiếu thảo với cha mẹ chồng nên có sự không may. Cô phải đối trước bàn thờ Tổ tiên sám hối, đối trước cha mẹ chồng từ nay ăn ở phải đạo thì con cô sẽ khỏi.
Cô ta làm đúng như lời, rồi bế đứa bé đến chùa. Tôi định thần khấn Tam Bảo gia bị, vừa xoa đầu đứa trẻ, vừa chúc nguyện. Nó liền mở mắt, một lúc sau rời tay mẹ, tụt xuống đất đi chơi. Thế là ông thôn trưởng đưa ngay chín cái xe đến cho nhà chùa dùng. Từ đó người ta tranh nhau làm công quả.
Giáo lý cao siêu, chỉ những bậc thượng căn mới biết quy ngưỡng. Ngôi Tam Bảo lâu lâu cũng phải thị hiện thần lực để lòng người cảm phục mà quay về tu hành.
III. Từ kinh Lăng Nghiêm thấy ra được nguyên nhân xuất hiện chúng sinh khắp Pháp giới.
Mê thấy ra hư không, kết đặc (hóa hợp) thành sắc.

- Hư không kết đặc thành sắc chính là vật chất mà vật chất là chúng sinh. Chúng sinh vô tình thuộc về năm đại: Đất đại, Nước đại, Gió đại, Hỏa đại, Không đại do nơtron, protron, electron tạo nên. Chính là vô số dải ngân hà, vô lượng các vì sao, vô biên các thái dương hệ, trong đó có mặt trời, mặt trăng, núi rừng đất liền, sông ngòi biển cả, bầu khí quyển.v.v… Thêm hai đại nữa là kiến đại, thức đại. Cùng với năm đại kể trên sinh ra chúng sinh hữu tình khắp pháp giới.
Do mê khiến thành chúng sinh, mà đã là chúng sinh hữu tình thì năng lượng của bản tâm không còn là năng lượng bản thể giác tính nữa, nó chuyển thành năng lượng sinh học có tần số dao động của sóng năng lượng thấp hơn rất nhiều tần số dao động của sóng năng lượng giác tính (Phật tính). Nó tạo nên kiến đại thức đại.
Từ năng lượng bản thể giác tính là trí tuệ tâm Phật do mê nên chuyển thành năng lượng của chúng sinh. Khoa học ngày nay gọi là năng lượng sinh học là trí tuệ bản tâm của các bậc Thánh.
Mê thêm một tầng nữa (mê đặc), năng lượng sinh học bản tâm của thánh A La Hán tiềm ẩn trong các tế bào thần kinh, của thần kinh hệ chính là thức thứ tám hay thần thức, là bản tâm của chúng sinh thuộc cảnh giới Phàm mà con người là trung tâm.
Vì thế Kinh Hoa Nghiêm Phật nói “Lạ thay, tất cả chúng sinh đều đầy đủ đức năng trí tuệ Như Lai (Phật đã thành) chỉ do vọng tưởng chấp trước (mê) mà không chứng đắc (không thành Phật).”
Như vậy, nguyên nhân có chúng sinh là do tâm bị mê.
Giác là Phật, mê là chúng sinh. Vì giác là biết đúng sự thật, mê là biết sai sự thật. Xin lấy ví dụ hình ảnh để làm rõ giữa tâm giác và tâm mê.
Một hồ nước trong vắt đứng lặng, mặt nước không hề gợn sóng, dụ cho tâm Phật (giác). Đêm rằm mặt trăng soi bóng tròn rõ như thật. Khi có gió thổi gió dụ cho nghiệp (gió nghiệp) mặt nước gợn sóng, bóng trăng sai khác, nhìn không thật nữa. Mặt nước gợn sóng dụ cho thức tâm chúng sinh (mê). Sóng nước cũng là nước trong hồ nước đứng lặng. Thế nên thức tâm chúng sinh với chân tâm Phật không hai không khác, chỉ do mê - giác mà có hai có khác mà thôi, nên kinh Phật nói “Phiền não tức Bồ đề” vậy.
- Trong bản đồ mười pháp giới, có chín cõi giới là chúng sinh gồm: Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn, Trời, Atula, Người, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục.
Trong 9 pháp giới có 3 pháp giới thuộc cảnh giới Thánh là Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn và 6 pháp giới thuộc cảnh giới Phàm là Trời, Atula, Người, Súc Sinh, Ngạ Quỷ, Địa ngục gọi là 6 đạo luân hồi.
Nguyên nhân mà con người phải trôi lăn trong Lục đạo luân hồi là gì?

Khi sống tạo thiện nghiệp nhiều hơn hoặc ít hơn ác nghiệp một chút, khi chết sẽ được sinh lên ba cõi lành: Atula, Người, Trời. Nếu tạo nghiệp ác quá nhiều so với nghiệp thiện cho tới không tạo thiện nghiệp nào, khi chết sẽ đọa vào ba ác đạo Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục. Nên nguyên nhân con người phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi là nghiệp. Vậy nghiệp là gì? Những điều thiện, điều ác do thân tức việc làm, miệng tức lời nói, ý tức ý nghĩ tạo ra thì gọi là nghiệp. Việc làm thiện, lời nói thiện, ý nghĩ thiện gọi là nghiệp nhân thiện. Nói, làm, nghĩ ác gọi là nghiệp nhân ác. Khi gieo nghiệp nhân thiện thì được quả báo là phúc (gọi là phúc báo). Khi gieo nghiệp nhân ác thì chịu quả báo khổ (gọi là khổ báo). Nghiệp là nhân, báo là quả. Khi nhân quả nghiệp báo nối tiếp không ngừng thì gọi là luân hồi vậy.
IV. Vận dụng Phật Pháp và khoa học hiện đại để nhận biết thân tâm con người.
Phần tử nhỏ nhất của vật chất vô sinh (chúng sinh vô tình) là phân tử.
Phần tử nhỏ nhất của vật chất hữu sinh (chúng sinh hữu tình) là tế bào.
Tế bào có hai loại: tế bào thần kinh (còn gọi là nơron thần kinh) và tế bào sinh diệt.
- Tế bào thần kinh:
Do vật chất thanh tịnh (tịnh sắc) kết đặc lại mà thành có nguồn gốc từ năng lượng sinh học (kiến đại, thức đại) ở môi trường, nên Phật Pháp gọi là tế bào tịnh sắc hay tế bào thắng nghĩa. Nó ví như một chiếc pin nhưng là pin tế bào. Chiếc pin thường thì nạp năng lượng của dòng điện một chiều là năng lượng vật lý, dùng hết năng lượng thì bỏ hoặc nạp lại (pin xạc). Còn pin tế bào thì nạp năng lượng sinh học hay nhân điện, là năng lượng thần thức, chính là tâm trí tuệ của con người. Khác với pin thường, pin tế bào chỉ nạp năng lượng một lần dùng cho cả đời, nó không bị tiêu hao. Khi chết năng lượng thần thức này lại rút đi để nạp vào tế bào thần kinh của thân mới (nếu được sinh lại làm người). Chức năng của tế bào thần kinh là bảo quản và truyền đạt năng lượng thần thức do sự điều hành của các cơ quan của thần kinh hệ.
- Tế bào sinh diệt: Phật Pháp gọi là tế bào phù trần. Theo di truyền học, tế bào sinh diệt được cấu tạo bởi nhiều đại phân tử nhưng chủ yếu là phân tử prôtêin, đại phân tử ADN, gen di truyền và các nhiễm sắc thể. Thành phần đặc trưng của tế bào con người gồm 46 nhiễm sắc thể, ghép thành 23 cặp, mỗi cặp có một nhiễm sắc thể có nguồn gốc từ cha, một nhiễm sắc thể có nguồn gốc từ mẹ. Trên mỗi nhiễm sắc thể có hàng triệu phân tử ADN, trên mỗi phân tử ADN lại có vô số các gen di truyền.
Tế bào có hai loại: Tế bào sinh dưỡng và tế bào sinh dục, tế bào sinh dưỡng có 23 cặp nhiễm sắc thể, tế bào sinh dục gọi là giao tử, có số nhiễm sắc thể bằng nửa số nhiễm sắc thể của tế bào sinh dưỡng. Gồm hai loại: Tế bào trứng có 22 nhiễm sắc thể thường và 1 nhiễm sắc thể giới tính X, tế bào tinh trùng có 22 nhiễm sắc thể thường và một nhiễm sắc thể giới tính X hoặc Y (tế bào trứng chỉ có một loại nhiễm sắc thể X, tế bào tinh trùng có hai loại nhiễm sắc thể giới tính X hoặc Y).
Nhờ có khả năng tự phân đôi của phân tử ADN và nhiễm sắc thể, nên tế bào mới có khả năng sinh sôi phát triển.

nhuphong

Tổng số bài gửi : 18
Location : normal
Registration date : 12/08/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết