ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI p5

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI p5

Bài gửi  nhuphong on Fri Oct 23, 2015 10:00 am

 Cảnh giới Atula.
Cảnh giới Atula là cảnh giới tâm của con người khi sống đạt tới mức thuần thiện.
Nhưng vì tính tình nóng nảy, cương trực nên đối trước những sự việc ngang tai trái mắt thường nổi sung giận dữ.
Họ thích tranh luận, đấu đá, kiện cáo, đôi khi còn cống cao ngã mạn, vì thế trong bản đồ mười pháp giới có ghi: “Phúc ngang bằng Trời, đức lại kém với, sân giận lật đổ, tranh đấu khắp nơi”.
Những người khi sống có cảnh giới tâm này, khi chết sẽ đầu thai vào một trong hai cảnh giới tương ứng là: Trời dục giới và người, người âm.
Nếu cảnh giới tâm là thuần thiện, khi chết sẽ được đầu thai lên cõi trời dục giới để hưởng phúc báo về ý nghiệp thiện cho đến khi màu sắc của bảy vầng hào quang bớt vẻ sáng đẹp, kích thước của bảy vầng co lại một chút sẽ phải đầu thai trở lại cảnh giới con người để hưởng tiếp phúc báo của thân khẩu nghiệp thiện.
Nếu cảnh giới tâm thấp hơn cảnh giới tâm thuần thiện mà gặp duyên cha mẹ thì đầu thai trở lại làm người (người có máu Atula) để hưởng phúc báo của thân khẩu ý nghiệp thiện và trả khổ báo của thân khẩu ý nghiệp ác mà mình đã tạo ra ở kiếp trước. Nếu không gặp duyên cha mẹ thì tồn tại ở cõi âm.
Do có phúc báo lớn, thần thông của họ rất mạnh nên rất linh thiêng, thường được người đời lập miếu để thờ gọi là thần nhưng không có sắc phong, chính là thần Atula vậy.
Các vị thần Atula nếu gặp duyên cha mẹ lại đầu thai trở lại làm người.
 Cảnh giới trời dục giới.
Nếu đặc trưng tâm con người khi sống là thuần thiện.
Cảnh giới tâm đầy đủ bảy vầng hào quang, các vầng có vị trí xa thân là xa nhất, kích thước của các vầng là dày nhất, màu sắc sáng đẹp rực rỡ nhất, đặc trưng tâm thấy biết sáng suốt nhất, tình cảm thuần yêu thương, thuần vui v.v… Vầng hào quang nhân quả chỉ còn năng lượng nghiệp nhân thiện của thân khẩu nghiệp thiện, vỏ bọc của vầng là mỏng nhất 0,6cm.
Người có cảnh giới tâm này khi chết được sinh lên cảnh giới tương ứng là Trời dục giới để hưởng phúc báo về ý nghiệp thiện mà họ đã tạo ra khi còn sống.
Do phúc báo quá lớn nên thần thông của họ quá mạnh vì thế gọi là thiên nhãn thông - mắt của các vị Trời, thiên nhĩ thông - tai của các vị Trời v.v… Phải chăng vì có thần thông quá mạnh mà các vị Trời thường ban phát phúc lành cho con người dưới hạ giới khi họ cầu xin các Ngài?...Thân của các vị Trời là thân hào quang năng lượng cảm giác sắc ấm nên chỉ hưởng phúc báo của ý nghiệp thiện.
Chủng tử của nghiệp nhân ý nghiệp thiện được giữ lại trong tàng thức luôn hiện ra trong tâm thành những giấc mộng đẹp triền miên không bao giờ dứt về những cảnh sinh hoạt ăn uống tiệc tùng, vui chơi, đàn ca, nhảy múa trong những lâu đài nguy nga tráng lệ, sung sướng không sao tả siết.
Vì kích thước của bảy vầng hào quang là lớn nhất nên nhẹ, vì thế cảnh giới tâm ở trên tầng cao nên gọi là cõi Trời. Hưởng hết phúc báo ý nghiệp thiện, màu sắc của bảy vầng hào quang dần dần bớt đi vẻ sáng đẹp, kích thước của các vầng dần dần co lại sẽ nặng hơn, tương ứng với cảnh giới tâm cực thiện của con người nên đầu thai trở lại làm người để hưởng tiếp phúc báo của thân khẩu ý nghiệp thiện.
  Cảnh giới của ba cõi: cõi Dục giới, cõi Sắc giới và cõi Vô sắc giới.
Sau khi chết con người đầu thai vào sáu cảnh giới tương ứng. Từ cảnh giới Trời dục giới xuống tới cảnh giới Địa ngục gọi là sáu đạo luân hồi.
Chúng sinh trong sáu đạo này còn lòng dục nên gọi là cõi dục giới.
Nếu khi sống mà đạt tới cảnh giới tâm thuần thiện là đã xả bỏ được năm thứ dục thô là: tài (tiền của), sắc (dâm dục), danh (danh giá, địa vị), ăn, ngủ.
Lại tu tiếp bằng pháp môn thiền định cho đến khi xả bỏ hết sáu thứ dục vi tế là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sẽ đắc bốn mức định là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Khi chết theo định nghiệp sinh thẳng lên cõi trời sắc giới để hưởng phúc báo của định nghiệp (sống ở trong định – tứ thiền thiên).
Cõi trời sắc giới cao hơn cõi trời dục giới.
Nếu khi còn sống đắc được bốn mức định cao hơn nữa là: không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Ở bốn mức định này cảnh giới tâm không còn hai vầng hào quang cảm giác sắc ấm và cảm xúc thọ ấm, vì thế khi chết theo định nghiệp sinh thẳng lên cõi trời cao hơn cõi trời sắc giới và vì không còn vầng hào quang cảm giác sắc ấm nên gọi là cõi trời vô sắc giới để hưởng phúc báo thiền định của tứ thiền không.
Hưởng hết phúc báo định nghiệp tứ thiền không ở cõi trời vô sắc giới, lại chuyển sinh xuống hưởng phúc báo định nghiệp của tứ thiền thiên ở cõi trời sắc giới, lại chuyển sinh xuống hưởng phúc báo ý nghiệp thiện của cõi trời dục giới, lại chuyển sinh xuống cảnh giới người để  hưởng  phúc  báo  thân  khẩu  ý  nghiệp thiện. Chuyển sinh lên xuống giữa ba cõi như thế gọi là luân hồi trong ba cõi (tam giới).
 Kết luận.
Thành tựu khoa học hiện đại về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể con người đã giúp ta nhận biết quá trình luân hồi của tâm con người khi còn sống và cảnh giới lục đạo luân hồi sau khi chết bằng những hình ảnh cụ thể, đã hiện tướng ra trên giấy trắng mực màu. Một lần nữa làm sáng tỏ đạo lý nhân quả luân hồi của Phật là chân thật, khách quan và khoa học vậy.
c. Nhận thức về sự khác nhau giữa chúng sinh hữu tình là con người và chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật.
Như ở phần III của bài đã viết: Chúng sinh vô tình thuộc về năm đại là đất đại, nước đại, gió đại, lửa đại và không đại.  
Do  ba  bản  thể  năng  lượng  Nơtron, proton, electron hòa hợp duyên khởi mà tạo nên. Chúng sinh hữu tình phải có thêm hai đại nữa là kiến đại và thức đại là năng lượng về cái thấy và cái biết của chúng sinh, có nguồn gốc từ năng lượng bản thể giác tính, là năng lượng về tính thấy, tính biết của Phật, do mê nên  mức năng lượng giảm mà sinh ra.
Nó chính là năng lượng sinh học mà khoa học hiện đại đã khám phá ra được.
 Chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật chỉ do sáu đại:  đất đại, nước đại, gió đại, lửa đại, không đại và kiến đại hòa hợp duyên khởi mà sinh ra.
Như động vật bậc cao là loài thú cũng chỉ sống được bằng năm giác quan và ba bản năng sinh tồn mà thôi.
Thí dụ: Trước mắt con trâu là cái cây to, nó chỉ nhìn thấy cái cây chứ không biết là cây gì, mít hay nhãn, ai trồng, trồng từ bao giờ, quả có ngon hay không ngon…
Hay gần đấy có người gảy đàn, nó chỉ nghe thấy âm thanh phát ra từ cây đàn chứ không biết là đàn gì ghi ta hay đàn bầu, ai gảy bài nhạc nào, có hay hay không hay.
Là bởi vì tâm của nó chỉ sinh ra từ kiến đại (cái thấy) mà không có thức đại (cái biết).
Lại nữa, một bầy chó trong sân nếu vứt cho một khúc xương chúng liền xô tới tranh nhau, con nào khỏe giành được chạy đi ăn một mình.
Nó không biết nhường nhịn chia nhau cùng ăn, vì nó chỉ sống bằng bản năng sinh tồn, nó không có ý thức tức không có thức đại (cái biết) vậy.
Các loài động vật bậc thấp thì không đủ năm giác quan, con ốc, con hến chỉ có một giác quan là xúc giác.
Còn thực vật thì không có giác quan vì nó không có tế bào thần kinh, nhưng nó vẫn có cảm giác thấy, như cây nào cũng đều hướng về ánh sáng, cây xấu hổ ban ngày lá nó xòe ra, tối đến hoặc đụng tay vào nó liền cụp lại. Khoa học ngày nay đã chụp ảnh được hào quang bao quanh lá cây.
 Chúng sinh hữu tình là con người thì đầy đủ bảy đại: đất, nước, gió, lửa, không, kiến và thức đại, hòa hợp duyên khởi mà sinh ra.
Có như vậy khoa học mới xác định được con người là vũ trụ thu nhỏ hay tiểu vũ trụ.
Còn Phật pháp thì chỉ rõ con người là Phật vị lai, bởi vì tâm con người mới tiềm ẩn đầy đủ tính Phật nên mới tu thành Phật được và mới nói Phật tại tâm được.
V. Pháp môn niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật.
1. Pháp môn niệm Phật là pháp tha lực về hào quang năng lượng trí tuệ Phật.
a) Sơ lược tiểu sử của Phật A Di Đà và xuất xứ của Pháp Môn Niệm Phật

A Di Đà Phật là tiếng Phạn, dịch: vô lượng quang, vô lượng thọ.
Ngài là giáo chủ thế giới cực lạc về phía tây.
Theo kinh Cổ Âm Vương, thì đời quá khứ lâu xa, có nước Diệu Hỷ.
Vị quốc vương là Kiều Thi Ca. Bấy giờ có Phật Tự Tại Vương Như Lai ra đời. Kiều Thi Ca xuất gia đầu Phật, hiệu là Pháp Tạng.
Lại kinh Vô Lượng Thọ nói: “ Pháp Tạng tỳ khưu ở nơi Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai phát lòng bồ đề, lại phát 48 lời nguyện, mỗi nguyện như thế lại nói: nếu không được như thế, tôi thề không thành Phật”.
Những đại nguyện ấy đã thành tựu và ngài Pháp Tạng đã thành Phật, tức là đức A Di Đà ở Thế Giới Cực Lạc hiện nay. Trong 48 đại nguyện có hai đại nguyện 13, 14 mở ra pháp tha lực, còn đại nguyện 18 là đại nguyện tiếp dẫn chúng sinh về Tây Phương Cực Lạc mở ra Pháp môn Niệm Phật, là xuất xứ của Pháp Môn Niệm Phật là pháp tha lực vậy.
b)  Nội  dung  của  đại  nguyện  13, 14 (trích kinh Vô Lượng Thọ do cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập).
“Khi tôi thành Phật, quang minh vô lượng chiếu khắp mười phương. Vượt hơn quang minh của thảy chư Phật. Vượt hơn ánh sáng mặt trời, mặt trăng ngàn vạn ức lần.
Nếu có chúng sinh thấy được quang minh chiếu chạm thân mình, đều được an lạc, tâm từ hành thiện.
Được sinh nước tôi. Nếu không như nguyện, không thành Chính giác”.

Phật là do chúng sinh tu thành. Phải đầy đủ vô lượng quang, vô lượng thọ, vô biên công đức. Mới chứng quả vị Phật.
Tuy nhiên nguyện tu hành của Chư Phật có mức độ  khác  nhau  nên  nguyện  lực  cũng  khác nhau.
Vì muốn độ tận chúng sinh nên đức Phật A Di Đà đã phát đại nguyện 13 và 14 để có nguyện lực lớn, chính là Pháp tha lực.
Do có Pháp Tha Lực, Phật A Di Đà mới phát tiếp đại nguyện thứ 18, là đại nguyện tiếp dẫn chúng sinh về Tây Phương Cực Lạc để mở ra Pháp Môn Niệm Phật là Pháp Tha Lực.
Nên 3 đại nguyện 13,14 và 18 đã mở ra Pháp Môn Niệm Phật là Pháp Tha Lực vậy .
Ba đại nguyện này tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân gọi là Di Đà bản nguyện.
Còn khi nói, viết nguyện 18 là Di Đà bản nguyện là nói tắt, viết tắt.
Cũng như thế khi nói, viết Pháp Môn Niệm Phật là nói tắt, viết tắt.
Còn nói đủ viết đủ phải là Pháp Môn Niệm Phật  là Pháp Tha Lực.
Hay nói, viết niệm Phật cũng là nói tắt viết tắt.
Nói đủ viết đủ phải là Tha Lực Niệm Phật.
Có hiểu như thế mới đồng với ý nghĩa của Pháp Môn Niệm Phật là Pháp Tha Lực vậy.
Trong Niệm Phật Tông Yếu, Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy: “Kinh Quán Vô Lượng Thọ chép rằng: “Quang minh soi chiếu khắp 10 phương thế giới, thâu nhiếp không rời chúng sinh niệm Phật”.
Quang minh đức Phật A Di Đà chỉ soi chiếu người niệm Phật chẳng soi chiếu người tu các hạnh khác.
Bởi thế người cầu sinh sang Cực Lạc phải biết niệm Phật là trọng yếu”
.
Quang minh chính là tha lực của Phật A Di đà vậy.
Trong Niệm Phật Cảnh, có người hỏi Tổ Thiện Đạo: Nói về pháp môn thì vô lượng Pháp nào là tự lực, pháp nào là tha lực.
Tổ đáp: “ Như Lai nói 84000 pháp môn, nhưng chỉ có một môn Niệm Phật là tha lực.
Các môn tu hành khác đều là tự lực”.
Hỏi tiếp: Tu hành tự lực y theo lời dạy trong kinh Phật bao giờ mới thành tựu?
Tu hành theo tha lực bao giờ mới thành tựu?
Tổ đáp: “Tu hành tự lực theo lời dạy trong kinh Phật từ lúc mới phát tâm tu qua một đại A tăng tỳ kiếp mới đến sơ địa bồ tát, ngang với quả vị A la hán.
Lại một đại a tăng tỳ kiếp nữa mới đến bát địa bồ tát.
Đây là tự lực. Tu hành theo tha lực là pháp môn niệm Phật, mau thì một ngày, chậm thì bảy ngày niệm Phật A Di Đà vãng sinh tịnh độ.
Ngang hàng với Bồ Tát bát địa.
Tại sao? Vì nương vào sức mạnh bản nguyện của Phật A Di Đà.
Trong kinh A Di Đà nói: “Chúng sinh được sinh về cực lạc đều là bậc bất thoái chuyển”. Tức là Bồ Tát bát địa vậy.”
Lại hỏi tiếp: Tha lực và tự lực ý nghĩa thế nào?
Tổ đáp: “Tha lực giống như con kiến bám vào cánh đại bàng. Đại bàng liền đem kiến để lên đỉnh núi Tu Di. Kiến được lên cao thọ hưởng những điều thích thú. Phàm phu niệm Phật cũng như thế, nương vào nguyện lực của Phật mau được trở về Tây Phương thọ hưởng sự vui thích giống như con kiến nương vào sức mạnh đại bàng mà được lên núi, đấy là tha lực. Các môn tu khác, giống như con kiến  dùng  tự  lực  bò  lên  đỉnh  núi, chẳng thể tới được, đấy là tự lực. Vả lại tự lực giống như kẻ phàm phu què, không thể đi mau. Tha lực giống như Chuyển Luân Vương, bay trên hư không, qua lại khắp tứ thiên hạ, vì nương vào sức mạnh của bánh xe báu. Nương vào nguyện lực của Phật A Di Đà cũng như thế, trong một khoảnh khắc liền được vãng sinh Tây phương vào bậc bất thoái. Pháp môn niệm Phật nương vào sức mạnh bản nguyện của Phật A Di Đà mà mau chóng thành Phật. Vượt qua các Pháp môn khác gấp trăm nghìn vạn ức lần.”
c) Nội dung của đại nguyện thứ 18.
“Nếu  chúng  sinh  nào  muốn  về nước ta.
Một lòng tin ưa xưng danh hiệu ta cho đến 10 niệm.
Như không được sinh ta không thành Phật”.

Từ nội dung của đại nguyện 18 rút ra ba điều kiện: Muốn về nước ta là cầu vãng sinh.
- Một lòng tin mà cầu vãng sinh hay không nghi ngờ gì về chuyện vãng sinh, gọi là tin sâu (điều kiện 1).
- Một lòng ưa mà cầu vãng sinh hay chỉ một lòng cầu vãng sinh gọi là nguyện thiết (điều kiện 2).
- Xưng danh hiệu ta hay niệm Phật (điều kiện 3).
Trong 3 điều kiện thì tín đứng hàng đầu và mở ra hai điều kiện sau.
Bởi vì có tín mới có nguyện.
Có nguyện mới xưng danh hiệu ta hay niệm Phật.
Nếu tín mà không nguyện thì gọi là tín xuông.
Nếu nguyện mà không xưng danh gọi là nguyện hão.
Nên khi nói nguyện thiết là đã có tin sâu (gồm 2 điều kiện).
Ba điều kiện này là cần và đủ.
Cần là không thể thiếu một điều kiện nào trong 3 điều kiện.
Đủ là không cần thêm điều kiện nào nữa vào 3 điều kiện.
Vì đại nguyện 18 mở ra Pháp môn Niệm Phật nên 3 điều kiện này cũng là 3 điều kiện của Pháp Môn Niệm Phật vậy.
Trong  3 điều kiện thì  2  điều kiện tin sâu, nguyện thiết thuộc về tâm.
Vậy tâm tin sâu nguyện thiết là tâm gì?
Là tâm chân thật.
Vì sao? Vì tâm con người mong cầu đủ thứ.
Nhưng chỉ một lòng cầu vãng sinh (tin sâu, nguyện thiết) là chân thật.
Vì cầu vãng  sinh  là  cầu  giải  thoát  và  cầu  thành Phật.
Còn lại, kể cả cầu Phật cũng đều là cầu nhân ngã.
Cầu là để thỏa mãn lòng tham của mình mà thôi.
Tâm chân thật thì khởi niệm chân thật.
Niệm chân thật gọi là chính niệm.
Nên hai điều kiện tin sâu, nguyện thiết hay tín nguyện còn gọi là chính niệm vậy.

Trong niệm Phật Cảnh, tổ Thiện Đạo cũng khuyên dạy người tu Pháp Môn Niệm Phật như vậy:
“Luôn luôn niệm Phật phải chân thật
Y theo lời Phật chớ hồ nghi
Điều phục tâm viên đừng phóng dật.”

Còn điều kiện thứ 3 xưng danh hiệu ta hay niệm Phật là hành động của miệng lưỡi thuộc về thân.
Nên xưng danh hiệu ta hay niệm Phật chỉ là phương tiện do thân miệng thực hiện để phục vụ cho tâm chân thật (tin sâu nguyện thiết) của người tu Pháp Môn Niệm Phật được vãng sinh Tây Phương Cực Lạc mà thôi.
Trong  niệm  Phật  Tông  yếu,  Tổ  Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy: “Chỉ một lòng cầu vãng sinh mà niệm Phật. Đó là tha lực niệm Phật”.
Chỉ một lòng cầu vãng sinh là hai điều kiện tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật là điều kiện thứ 3.
Vậy niệm Phật mà đủ 3 điều kiện thì gọi là tha lực niệm Phật.
Nếu không đủ 3 điều kiện thì niệm Phật đó gọi là tự lực niệm Phật.

Tha lực niệm Phật sẽ nhận được quang minh hay tha lực của Phật chiếu trạm như đại nguyện 14 của Phật A Di Đà đã chỉ rõ. “… đều được an lạc, tâm từ hành thiện…”.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã làm rõ ý này của đại nguyện 14. “Một câu niệm Phật tiêu trừ 80 ức kiếp trọng tội sinh tử. Lại được 80 ức kiếp công đức vi diệu”.
Xưng  danh  hiệu  Phật  hay  niệm Phật (điều kiện 3) chỉ là tín hiệu địa chỉ để tha lực hay quang minh của Phật định hướng về người niệm Phật đó.
Còn có chiếu chạm hay không là tuỳ thuộc vào tâm người niệm Phật có đủ 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết hay không.
Nếu tâm người niệm Phật không có 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật là để cầu nọ, cầu kia hoặc có 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết mà bị tà niệm che mất thì quang minh hay tha lực của Phật cũng không chiếu chạm được. Vì thế, không phải câu niệm Phật nào cũng là tha lực niệm Phật.
Pháp môn niệm Phật là pháp tha lực nên người tu theo pháp môn phải có tâm độ mình và độ người.
Khi ta tha lực niệm Phật, nhận được quang minh hay tha lực của Phật chiếu chạm là đã tự độ cho mình, gọi là cảm ứng đạo giao.
Lại nhờ nhận được tha lực của Phật chiếu chạm để độ cho người khác gọi là hồi hướng công đức niệm Phật, chính là thần giao cách cảm vậy.
d) Thành tựu khoa học hiện đại về 7 vầng hào quang bao quanh cơ thể con người và kiến thức về bản chất sóng năng lượng sinh học đã làm sáng tỏ pháp môn niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật và việc hồi hướng công  đức  niệm  Phật  là  chân  thật, khách quan và khoa học.
Bản chất sóng năng lượng sinh học
(trích trang 202-203 sách Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học, tác giả Nguyễn Đình Phư.)
- Sóng năng lượng sinh học định hướng và mang thông tin. Khi bức xạ đủ mạnh, chủ nhân có thể phát thông tin kèm theo và định hướng cho sự lan truyền sóng.
Khoảng cách như thu hẹp lại, đối tượng dù ở đâu cũng lọt vào vùng bức xạ của sóng năng lượng sinh học. Vật cản hoàn toàn biến mất.
- Sóng năng lượng sinh học tương tác lên các vật chất, đặc biệt mạnh với cơ thể sống.
Trường năng lượng sinh học như nhau thì cộng hưởng, khác nhau thì chinh phục.
- Ít bị tiêu hao. Năng lượng thần thức chính là năng lượng trí tuệ Phật, do mê nên mức năng lượng giảm đi quá nhiều.  
Con  người  là chúng sinh nên năng lượng thần thức cũng chính là năng lượng sinh học vậy.
  Làm sáng tỏ đại nguyện 13, 14, 18 hay Pháp Môn Niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật.
Khi ta xưng danh hiệu Phật hay niệm Phật là ta đã phát tín hiệu địa chỉ khiến cho năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật định hướng về phía ta.
Nếu năng lượng thông tin của ta phát ra từ tâm chân thật (thần thức) là một lòng cầu vãng sinh hay tín nguyện thì đồng với năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật, nên vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả cho giao tiếp. Chính là chiếu chạm vào vầng hào quang nhân quả.
Vì vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả là nơi giao tiếp năng lượng thông tin của bản thể với năng lượng thông tin của môi trường.
Khi vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả cho năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật giao tiếp với năng lượng thông tin của ta phát từ năng lượng thần thức.
Năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật cực mạnh nên chinh phục năng lượng thông tin thần thức của ta khiến cho năng lượng thông tin thần thức bức xạ năng lượng mạnh thêm qua sáu luân xa, làm cho các vầng hào quang dãn ra xa thân. Năng lượng nghiệp nhân ý nghiệp thiện của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm tăng.
Vầng hào quang nhân quả nối tiếp với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm cũng dãn xa thân khiến cho nghiệp nhân thiện của thân khẩu nghiệp thiện tăng thêm, vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả mỏng thêm. Vì thế khi ta tha lực niệm Phật sẽ được Phật A Di Đà hỗ trợ nghiệp nhân thiện thân khẩu ý cho ta là như vậy.
 Làm sáng tỏ về hồi hướng công đức niệm Phật là chân thật Khi ta tha lực niệm Phật.
Năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật cực mạnh đã chinh phục năng lượng thông tin thần thức của ta, làm cho trường hào quang năng lượng của ta mạnh thêm.
Nhờ có trường hào quang mạnh thêm này, ta định hướng về những chúng sinh để chinh phục trường hào quang năng lượng của họ, làm cho trường hào quang năng lượng của họ mạnh thêm, kích thước của các vầng hào quang dãn ra xa thân, vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả mỏng thêm. Chính là ta đã hồi hướng công đức niệm Phật cho họ. Nếu chúng sinh đó còn đang sống.
Nghiệp nhân thân khẩu ý của họ tăng, khiến cho nghiệp chướng tiêu trừ làm bớt đi những chướng ngại trong cuộc sống đời thường.
Thiện căn lại thêm lớn giúp họ gặp nhiều may mắn để được hưởng thêm phúc báo...  Nếu chúng sinh đó đang ở cõi âm. Do vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả mỏng thêm mà thần thông của họ mạnh thêm.
Họ sẽ bớt khổ hơn, lại có thể phù hộ được cho con cháu. Và sớm gặp duyên cha mẹ để được sinh lại làm người. Nếu chúng sinh đó đang phải đọa vào ác đạo, sẽ giúp cho họ trả ác nghiệp nhanh hơn.
Trường hào quang của họ mạnh dần lên và rồi họ sẽ chuyển dần từ cảnh giới thấp địa ngục lên các cảnh giới cao hơn là ngã quỷ, súc sinh, để rồi từ những cảnh giới ác đạo đó chuyển lên thành người âm và đợi duyên cha mẹ để được sinh lại làm người.  Có  câu “Một người tu bảy họ được nhờ”. Chắc là nói về người tu Pháp Môn Niệm Phật vậy.
Những điều trình bày ở trên cho thấy tác dụng của việc hồi hướng công  đức  niệm  Phật  là  chân  thật khách quan và khoa học.
e) Điều kiện để người tu Pháp môn niệm Phật được Phật A Di Đà tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc là chính niệm tín và nguyện.
Phàm phu tội chướng thời kỳ Mạt Pháp hiện nay nghiệp chướng quá sâu dày, thiện căn quá yếu kém, căn cơ quá hạ liệt, thường bị nội ma tham, sân, si quấy phá làm cho tâm đầy tán loạn, không giữ được 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết khi ngồi yên tĩnh niệm Phật và cản trở khiến cho người tu không luôn luôn niệm Phật được.

Lại còn bị ngoại ma ra sức phá hoại, lòng tin vào Di Đà Bản Nguyện hay Pháp môn Niệm Phật như  gửi  thông  tin  qua  người  khác,  hoặc nhập vào người khác để nói hoặc đưa tài liệu làm cho người tu bị lạc đường.
Nhưng không phải vì thế mà phàm phu tội chướng khó được vãng sinh.
Trong niệm Phật Tông Yếu, Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy:[b] “Đã sinh làm người trong cõi tán địa này thì tâm đều tán loạn cả. Nếu phải bỏ cái tâm tán loạn mới được vãng sinh thì thật là vô lý.
Tán tâm niệm Phật mà được vãng sinh là chỗ đáng quý của Di Đà Bản Nguyện vậy”.

Tổ  Tri  Húc  cũng  có  lời  dạy:  “Niệm Phật còn nhiều tán loạn, nếu được vãng sinh thì về hạ hạ phẩm.
Nếu ít tán loạn thì về trung hạ phẩm.
Nếu không còn tán loạn thì về thượng hạ phẩm.
Nếu chứng tam muội sự thì về ba phẩm trung.
Chứng niệm Phật tam muội lý thì về ba phẩm thượng”.

Tổ còn dạy: “ Được sinh cùng chăng toàn do tín nguyện có hay không.
Về phẩm thấp cao là do niệm Phật sâu hay cạn”.

Lời dạy này của tổ Tri Húc đã được Tổ Ấn Quang khẳng định “Đây là luận án thép, nghìn Phật ra đời cũng không thay đổi”.
Vậy người tu pháp môn niệm Phật phải gắng sức nhiếp tâm niệm Phật để có được nhiều câu niệm Phật là tha lực niệm Phật, mới chuyển được tâm đầy tán loạn xuống còn nhiều tán loạn. Có thế mới có thể giữ được chính niệm là tín và nguyện để được Chư Phật Mười Phương hộ niệm cho đến trước khi lâm chung là 2 điều kiện cần phải có để đến khi lâm chung được Phật A Di Đà hiện ra tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc.
f) Người tu pháp môn niệm Phật giữ được chính niệm (tín, nguyện) cho đến trước khi lâm chung.
Đến khi lâm chung được Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc
Theo kinh Phật, lúc lâm chung thân ngũ uẩn gồm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.

Sắc uẩn là thân thịt xương máu mủ, bốn uẩn còn lại là thần kinh hệ, đang bị phân ly và liệt hoại làm cho thân thể bị đau đớn.
Còn tâm thì hiện ra ấm cảnh (cuốn phim cuộc đời) làm cho điên đảo.
Ấm cảnh là gì? Ấm cảnh là cảnh giới của lục đạo luân hồi do nghiệp nhân thiện ác mà con người gây ra khi còn sống và một số nghiệp nhân quá khứ tạo nên.
Đến sát na lâm chung  là một loáng thời gian trước khi chết, ấm cảnh hay cảnh giới nào mạnh sẽ lôi kéo thần thức và thân ngũ ấm người chết đó vào cảnh giới tương ứng của lục đạo luân hồi.
Từ đặc điểm trên của khi lâm chung, liên hệ với Kinh A Di Đà “Chỉ có những người một lòng chuyên niệm danh hiệu của Phật A Di Đà…
Người ấy khi nào lâm chung Phật cùng Thánh chúng hiện ra trước mặt, tâm không điên đảo, người  ấy  liền  sinh  sang  nước  Cực Lạc của Phật A Di Đà”
.
Như vậy thì chỉ có  những  người  tu  Pháp  môn  niệm  Phật giữ được chính niệm (tin, nguyện) cho đến trước khi lâm chung.
Vì chính niệm (tin, nguyện) đồng với Đại nguyện tiếp dẫn của Phật thì khi lâm chung Phật cùng Thánh chúng mới hiện ra trước mặt để tiếp dẫn.
Phật hiện nên ấm cảnh không hiện ra được, vì thế tâm người niệm Phật mới không điên đảo vẫn giữ được chính niệm (tin nguyện).
Trong niệm Phật Tông Yếu Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân cũng dạy như vậy:“Người  niệm Phật có lòng cầu vãng sinh và không nghi ngờ Di Đà bản nguyện, khi lâm chung không bị điên đảo.
Sở dĩ được vậy là nhờ chư Phật lai nghinh.
Phật lai nghinh để người tu niệm Phật cầu vãng sinh lúc lâm chung được chính niệm, không phải lúc lâm chung cần phải chính niệm thì Phật mới lai nghinh.
Người không biết nghĩa này cho rằng lúc lâm chung cần phải chính niệm niệm Phật Phật mới lai nghinh.
Kiến giải như vậy là không tin vào Phật nguyện và không hiểu kinh văn nữa”.

Nhưng chính niệm lúc lâm chung mới chỉ là tâm chân thật của phàm phu tội chướng, Phật chưa tiếp dẫn về Tịnh độ được.
Phải đợi đến khi tâm chân thật của phàm phu  trở  thành  tâm  thanh  tịnh,  Phật  mới phóng quang tiếp dẫn về Tịnh độ của Phật.
Lời khuyên người niệm Phật của Tổ Thiện Đạo trong Niệm Phật Cảnh làm rõ ý này.
Niệm Phật trước trừ tâm tham ái
Lâm chung tâm định thấy Di Đà
Tợ trăng sáng tỏ soi đầm biếc.

Có trừ được tâm tham ái mới giữ được chính niệm trước khi lâm chung.
Còn khi lâm chung tâm định mới thấy Di Đà.
Tâm có định mới sinh trí tuệ.
Trí tuệ tâm Phật chính là tâm thanh tịnh.
Nhờ có con mắt trí tuệ của tâm thanh tịnh mới thấy Di Đà, bởi thân của Phật là thân năng lượng, giống như hình hiện trên ti vi.
Mắt của người không thấy được.
Nhưng tâm định vào thời điểm nào của khi lâm chung?
Tâm định vào sát na lâm chung, sát na lâm chung là một loáng thời gian trước khi chết, trong một loáng thời gian này, thân ngũ uẩn vừa liệt hoại xong (hơi dứt mạng hết) đột ngột không ngăn che trí tuệ tâm Phật, ví như đèn hết dầu phụt sáng trước khi tắt. Vậy sát na lâm chung tâm người niệm Phật mới được thanh tịnh và Phật A Di Đà tiếp dẫn họ vào thời điểm này.
Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân cũng xác định như vậy:“Sát na lâm chung dễ như cắt sợi tơ, người ngoài không biết được, chỉ có Phật và người niệm Phật biết được mà thôi” (Trích Niệm Phật Tông Yếu).
Còn những  người  tu  pháp  môn  niệm phật  không  giữ  được  chính  niệm (tin nguyện) cho đến trước khi lâm chung. Khi lâm chung ấm cảnh hiện, làm cho tâm điên đảo.
Đến sát na lâm chung, ấm cảnh hay cảnh giới nào mạnh liền lôi kéo thần thức (sắc thân) những người đó vào cảnh giới tương ưng của lục đạo luân hồi.
Vì thế tổ Thiện Đạo có lời khuyên dạy như sau: “Việc luân hồi sinh tử rất lớn lao, phải tự mình gắng sức mới được.
Nếu một niệm sai lầm để luống qua thì nhiều kiếp chịu khổ.
Có ai thay thế cho mình! Nên suy nghĩ kỹ, nên suy nghĩ kỹ”.
g) Sơ đồ Nhân Duyên Quả của Pháp môn Niệm Phật.

[/b]

nhuphong

Tổng số bài gửi : 19
Location : normal
Registration date : 12/08/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết