ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI p4

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI p4

Bài gửi  nhuphong on Fri Oct 23, 2015 9:58 am

Vị trí xa thân và kích thước của vầng được xác định được như sau: Khi vị trí xa thân của vầng hào quang hình thái bổ sung hành  ấm  là  60cm,  vầng  hào  quang  nhân quả tiếp nối với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm ở vị trí 60cm nên có kích thước là 100cm – 60cm=40 cm (100cm là vị trí xa thân của bảy vầng hào quang mà vầng hào quang nhân quả là vầng ngoài cùng nên cũng là vị trí xa thân của vầng hào quang nhân quả). Kích thước 40cm này của vầng là không thay đổi vì nó được tạo bởi năng lượng nghiệp nhân thiện ác của thân khẩu nghiệp  thiện  ác  từ  gen  di  truyền  tốt  xấu trong nhân tế bào bức xạ ra.
Khi năng lượng nghiệp  nhân  thiện  của  thân  khẩu  nghiệp thiện tăng thì năng lượng nghiệp nhân ác của thân khẩu nghiệp ác giảm và ngược lại nên tổng số vẫn là như thế.
Khi vầng nối tiếp với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm ở vị trí xa thân nhất là 60cm, vầng chứa thuần năng lượng nghiệp  nhân  thiện  của  thân  khẩu  nghiệp thiện, kích thước vỏ bọc của vầng là mỏng nhất và bằng 0,6cm. Khi vầng nối tiếp với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm ở vị trí gần thân nhất là 15cm, vầng chứa thuần năng lượng nghiệp nhân ác của thân khẩu nghiệp ác, kích thước vỏ bọc của vầng là dày nhất và bằng 1,3cm.
  Mỗi vầng hào quang từ 2 đến 6 đều có 2 vị trí gần thân và xa thân.
Khoảng cách giữa hai vị trí là kích thước của vầng.
Khi vị trí xa thân là xa nhất, kích thước của vầng là dày nhất.
Khi vị trí xa thân co lại gần vị trí gần thân, kích thước của vầng mỏng dần.
Vị trí xa thân co tiếp chập một với vị trí gần thân, kích thước của vầng bằng 0, vầng không còn.
Vị trí xa thân co lại dần, kích thước vầng mỏng dần khiến cho:
- Màu sắc của các vầng cũng mờ nhạt dần.
- Đặc trưng của vầng hào quang thượng giới thức ấm thấy biết kém sáng suốt dần.
- Đặc trưng của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm, tâm thiện giảm dần, tâm ác tăng dần.
- Đặc trưng của vầng hào quang tinh tú tưởng ấm yêu thương giảm, ghét bỏ tăng.
-  Đặc trưng của vầng hào quang cảm xúc thọ ấm vui ít dần khổ tăng dần.
Sở  dĩ  có  sự  biến  đổi  trên  là  do  mức năng lượng của thần thức bức xạ ra mạnh hay yếu.
Nguyên nhân khiến có mức năng lượng mạnh hay yếu là bởi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm.
Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là thiện, chính là ý nghiệp thiện.
Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung là ác, chính là ý nghiệp ác.
Năng lượng của ý nghiệp thiện, ác này chính là năng lượng thần thức bức xạ ra mạnh hay yếu vậy.
b/2 Vận dụng kiến thức về bảy vầng hào quang đã xác định ở phần trên để nhận biết quá trình luân hồi của tâm con người khi còn đang sống.
 Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là thuần thiện,
vị trí xa thân của vầng là xa nhất bằng 60cm, kích thước của vầng là dày nhất là 60cm – 15cm = 45cm, màu sắc của vầng: trong suốt trên nền xanh cô ban, là sáng đẹp nhất.
- Vầng hào quang nhân quả tiếp nối với vầng hào quang hình thái bổ sung ở vị trí 60cm, kích thước của vầng là 40cm, chứa thuần năng lượng nghiệp nhân thiện của thân khẩu nghiệp thiện.  
Vỏ của vầng cách thân là 60cm + 40cm = 100cm. Kích thước của vỏ vầng là mỏng nhất 0,6cm.
 - Vầng hào quang thượng giới thức ấm cũng ở vị trí xa thân nhất là 82cm, kích thước của vầng là dày nhất: 82cm – 60cm=22cm.
Màu sắc của vầng: màu phấn là chủ yếu, sáng đẹp nhất. Đặc trưng của vầng: nhận biết sáng suốt nhất.
 -  Vầng hào quang tinh tú tưởng ấm cũng ở vị trí xa thân nhất là 25cm, kích thước của vầng: 25cm – 15cm=10cm, màu sắc của vầng: màu hồng là chủ yếu, sáng đẹp nhất, đặc trưng: thuần yêu thương.
 - Vầng hào quang tâm thần tưởng ấm cũng ở vị trí xa thân nhất là 20,5cm, kích thước của vầng là dày nhất: 20,5cm – 7,5cm = 13cm, màu sắc: màu vàng chói sáng đẹp nhất, đặc trưng: tư duy tốt nhất.
 - Vầng hào quang cảm xúc thọ ấm cũng ở vị trí xa thân nhất là 7,5cm. Kích thước của vầng là dày nhất bằng 7,5cm - 2,5cm = 5cm, màu sắc: thay đổi từ vàng chói đến xám xịt, nhưng lại chứa tất cả các màu của cầu vồng, vẫn là sáng đẹp nhất, đặc trưng: thuần vui.
Người có cảnh giới tâm này là bậc vĩ nhân hoặc thánh nhân.
  Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm thiện nhiều hơn ác,
vị trí xa thân co lại 15 cm nên cách thân là: 60cm-15cm= 45 cm, kích thước của vầng mỏng bớt: 45cm – 15cm = 30cm, màu sắc của vầng đã kém vẻ sáng đẹp.
Vầng hào quang nhân quả co lại nối tiếp với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm ở vị trí 45cm, vỏ của vầng cách thân 45cm+40cm = 85cm.
Vầng chứa nhiều năng lượng  nghiệp  nhân  thiện  của  thân  khẩu nghiệp thiện hơn năng lượng nghiệp nhân ác của thân khẩu nghiệp ác, kích thước vỏ bọc dày hơn 0,6cm.
Vị trí xa thân của các vầng hào quang còn lại tiếp tục co về gần với vị trí gần thân, kích thước của các vầng vẫn lớn hơn kích thước trung bình của vầng, mầu sắc của các vầng vẫn còn sáng đẹp, đặc trưng của các vầng như vầng hào quang thượng giới thức ấm vẫn thấy biết sáng suốt, vầng hào quang tinh tú và tâm thần tưởng ấm vẫn yêu thương nhiều, tư duy tốt, vầng hào quang cảm xúc thọ ấm vẫn còn vui nhiều.
Người có cảnh giới tâm này là người giữ gìn ngũ giới nhiều.
 Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm ác nhiều hơn thiện.

Vị trí xa thân tiếp tục co thêm 15cm nữa, nên  cách thân là 45cm-15cm=30cm, kích thước vầng là 30cm-15cm=15cm, mỏng hơn kích thước trung bình của vầng, khiến màu sắc của vầng đã mất đi vẻ sáng đẹp.
- Vầng hào quang nhân quả tiếp tục co về nối tiếp với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm, ở vị trí cách thân là 30cm, vỏ của vầng cách thân là 30cm+40cm = 70cm.
Năng lượng của vầng nhiều nghiệp nhân ác của thân khẩu nghiệp ác hơn là năng lượng nghiệp nhân thân khẩu nghiệp thiện, kích thước vỏ bọc dày lên rất nhiều. Vị trí xa thân của các vầng hào quang còn lại tiếp tục co về gần với bị trí gần thân, kích thước của các vầng đều mỏng hơn kích thước trung bình của vầng, nên màu sắc của các vầng đã mất đi vẻ sáng đẹp.
Đặc trưng của các vầng như vầng hào quang thượng giới thức ấm, thấy biết đã kém sáng suốt.
Vầng hào quang tinh tú và tâm thần tưởng ấm ghét bỏ nhiều hơn yêu thương, tư duy kém, vầng hào quang cảm xúc thọ ấm khổ nhiều hơn vui.
Người có cảnh giới tâm này  là người giữ gìn ngũ giới ít.
  Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là quá ác,
vị trí xa thân của vầng tiếp tục co thêm 10cm nữa nên cách thân: 30cm-10cm=20cm.
- Vầng hào quang nhân quả cũng co lại gần thân và tiếp nối với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm ở vị trí cách thân là 20cm, vỏ bọc của vầng cách thân 20cm+40 cm = 60cm.
Vầng  hào  quang  nhân  quả  là  vầng ngoài cùng mà vị trí gần thân của vầng hào quang thượng giới thức ấm là 60 cm nên vầng hào quang thượng giới thức ấm không còn.
Các vầng hào quang khác tuy còn nhưng kích thước đều rất mỏng, màu sắc mờ nhạt.
Vầng hào quang thượng giới thức ấm không còn, cảnh giới tâm của con người mất đi sáu thức nên chỉ sống bằng bản năng, tương đương với cảnh giới của  loài  thú.  
Vì  thế  thường  bị  người  đời mắng nhiếc bằng những câu thậm tệ nhưng đích thực như đồ vô ý thức, đồ súc sinh v.v..
Người có cảnh giới tâm này chỉ tương đương với súc sinh.
 Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là cực ác:

-  Vị  trí  xa  thân  của  vầng  hào  quang hình thái bổ sung hành ấm tiếp tục co thêm 5cm nữa nên cách thân là 20cm-5cm=15cm khiến cho vị trí xa thân chập một với vị trí gần thân.
Vì thế vầng không còn.
- Vầng hào quang nhân quả co lại tới vị trí gần thân là 15cm là vị trí gần thân của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm đã mất.
Vầng hào quang tinh tú tưởng ấm có vị trí gần thân là 15 cm cũng không còn,
chỉ còn vầng hào quang tâm thần co về sát với vị trí gần  thân  là  7,5cm.  
Vầng  hào  quang  thọ ấm cũng co về sát với vị trí gần thân là 2,5 cm, tạo nên cảnh giới tâm chỉ còn bốn vầng hào quang là vầng hào quang cảm giác sắc ấm, vầng hào quang cảm xúc thọ ấm, vầng hào quang tâm thần tưởng ấm và vầng hào quang nhân quả bao bọc bên ngoài cách thân ở vị trí gần nhất là 15cm.
Kích thước của vầng là 40cm, chứa thuần nghiệp nhân ác của thân khẩu. Vỏ bọc của vầng là dày nhất (1,3cm).
Người có cảnh giới tâm này đã bị mất ba  vầng  hào  quang  là  vầng  thượng  giới thúc ấm (ý thức), vầng hào quang tinh tú tưởng ấm (tình cảm yêu thương) và vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm (tâm thiện). Nên họ tham lam, bỏn sẻn, ích kỷ, ghét ganh, thấy lợi giành tranh....
Cảnh giới tâm của họ còn thấp hơn loại thú.
 Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là thuần ác,
vị trí xa thân của vầng hào quang tâm thần tưởng ấm và vị trí xa thân của vầng hào quang cảm xúc thọ ấm, co lại chập một với vị trí gần thân làm mất thêm hai vầng hào quang nữa, tạo nên cảnh giới tâm chỉ gồm có hai vầng hào quang là vầng hào quang cảm giác sắc ấm cách thân 2,5cm  và  vầng  hào  quang  nhân  quả  bao ngoài cách thân là 15cm, kích thước là 40cm chứa thuần năng lượng nghiệp nhân ác của thân khẩu nghiệp ác, kích thước của vỏ bọc là dày nhất bằng 1,3cm.
Người có cảnh giới tâm này còn  thấp  hơn  loài  thú  dữ.  
Họ  là  những tên đầu trộm đuôi cướp, đâm thuê chém mướn, xì ke ma túy nặng, mãi dâm chuyên nghiệp  v.v… Hạng người này khó bề cải tạo bởi vì ý thức, tâm thiện, tình cảm yêu thương, cảm xúc vui vẻ đã mất sạch trong tâm của họ nên giáo dục bằng lời chỉ như nước đổ lá khoai, nếu dùng hình phạt cũng như lấy đá đè cỏ mà thôi.
Tuy nhiên, rất cá biệt cũng có người có thể do nghiệp nhân thiện quá khứ chín mùi hay nghiệp nhân thiện thuộc hậu báo biến thành hiện báo khiến họ hồi tâm, ăn năn hối cải, tiếp thu sự giáo dục, thực thi luật pháp, tự giác lao động cực nhọc để chịu quả khổ do nhân ác họ đã gây nên, thế rồi nghiệp giảm phúc tăng, các vầng hào quang đã mất dần dần hiển lộ cho đến khi xuất hiện đầy đủ bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể. Thế là họ đã trở lại thành người với đầy đủ tính người vốn có, và cứ thế tiếp tục làm lành lánh ác họ sẽ trở lại thành người lương thiện.
  Như trình bày ở trên thì con người khi sống đã tạo ra sáu cảnh giới tâm thiện ác là:
-  Cảnh  giới  tâm  thuần  thiện  của  bậc vĩ nhân hoặc thánh nhân gồm 7 vầng hào quang, kích thước của 7 vầng hào quang là lớn nhất.
- Cảnh giới tâm thiện nhiều hơn ác của người giữ gìn ngũ giới nhiều gồm 7 vầng hào quang, kích thước của 7 vầng hào quang thu nhỏ lại.
- Cảnh giới tâm ác nhiều hơn thiện của người giữ gìn ngũ giới ít gồm 7 vầng hào quang, kích thước của 7 vầng hào quang là nhỏ nhất.
- Cảnh giới tâm quá ác của người ngang với loài thú gồm 6 vầng hào quang.  
Kích thước nhỏ hơn kích thước 7 vầng hào quang của người giữ gìn ngũ giới ít.
- Cảnh giới tâm cực ác của người thấp hơn loài thú gồm 4 vầng hào quang.
Kích thước thu lại quá nhỏ so với những người có cảnh giới tâm quá ác.
- Cảnh giới tâm thuần ác của người thấp hơn loài thú dữ gồm 2 vầng hào quang. Kích thước là nhỏ nhất.
Ở sáu cảnh giới tâm này con người đã gieo nhân thiện ác để rồi được hưởng phúc báo của nhân thiện hay chịu khổ báo của nhân ác sau khi chết vậy.
 Quá trình hình thành cảnh giới tâm cao hơn cảnh giới tâm của con người:
Khi vị trí xa thân của vầng hào quang hình  thái  bổ  sung  hành  ấm  là  xa  nhất (60cm), đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là thuần thiện thì đặc trưng tâm của vầng hào quang thượng giới thức ấm vẫn trong vòng thấy biết của cảnh giới hữu hình.
Vị trí xa thân của vầng hào quang thượng giới thức ấm chỉ cách thân tối đa là 82cm.
Vì sao năng lượng thần thức bức xạ qua luân xa sáu lại không vượt quá 82cm?
Vì bị hai lớp ngăn che: ở bên trong là thân năm uẩn (tế bào thần kinh và luân xa 6), ở bên ngoài là vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả.
Vậy muốn cho năng lượng thần thức qua luân xa sáu vượt được vị trí xa thân là 82cm thì phải tu hành theo pháp môn thiền định.
Vậy thiền định là gì?
Bên ngoài tâm không duyên theo cảnh gọi là thiền,bên trong tâm không động thì gọi là định.
Nếu tu thiền mà tâm không động thì gọi là đắc định.Có đắc định mới có định nghiệp và lực của định nghiệp mới thắng được sự ngăn che của năm uẩn để năng lượng thần thức qua luân xa 6 vượt được vị trí xa thân là 82cm và vượt qua vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả, phóng thẳng ra ngoài thành vầng hào quang trí tuệ, có vị trí xa thân không dùng đơn vị đo là cm mà phải dùng đơn vị đo lớn hơn.
Năng lượng vượt qua vầng hào quang nhân quả thì gọi là thần thông (thần thức đã thông ra ngoài).
Thần thông là trí tuệ thấy, nghe, biết vượt qua giới hạn hữu hình. Nó rất vi diệu, như thiên nhãn thông nhìn thấu trong lòng đất, nhìn qua tường vách, nhìn thấy được sự việc sẽ xảy ra ở vị lai, như tha tâm thông biết được ý nghĩ của người khác, như túc mạng thông thấy biết được các kiếp quá khứ của mình và của người v.v… Người tu thiền càng vào sâu trong  định, định lực càng mạnh, vầng hào quang trí tuệ càng dãn xa thân.
Theo Phật Pháp thì có tám mức định thấp mà người tu thiền có thể đạt được gồm bốn mức tứ thiền thiên: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Ở bốn mức định này tâm của người tu không còn lòng dục, chỉ còn vui ở trong định.
Khi ở trong định mà xả được tâm vui thì chuyển lên bốn mức định cao hơn là tứ thiền không bao gồm: không xứ định, thức xứ định, vô sở hữu xứ định, phi tưởng phi phi tưởng xứ định.  
Đạt được mức định phi tưởng phi phi tưởng là cao tột, không vượt được nữa. Bởi vì muốn vượt được mức định này thì phải tu đến nghiệp sạch tình không là tận diệt thân khẩu ý nghiệp.
Thân khẩu nghiệp còn tận diệt được chứ ý nghiệp thì khó tận diệt vậy. Thế nên tu thiền mà không cùng tu giới luật thì không thể nghiệp sạch tình không được.
Đạt được mức định phi tưởng phi phi tưởng xứ định rồi mà không giữ được vẫn bị tụt xuống mức định thấp hơn, hoặc mất hẳn, như chuyện xảy ra ở Ấn Độ thời đức Phật Thích Ca còn là thái tử Tất Đạt Đa mới xuất gia tu hành. Thời ấy có đạo sĩ Út Đầu Lan Thất đã đắc mức định phi tưởng phi phi tưởng. Đạo sĩ được các đức vua xứ Ấn Độ thời đó rất kính mộ.
Theo thông lệ hàng năm đạo sĩ được đức vua Ba Tư Nặc mời xuống hoàng cung để thết đãi và tham vấn.
Đến hẹn, đạo sĩ đằng vân xuống hoàng cung nhưng nhà vua có việc đột xuất phải để ái phi thay tiếp.
Đạo sĩ vừa nhìn thấy ái phi, sắc đẹp tuyệt trần, trang phục lộng lẫy liền bị động tâm, đã nhắm mắt rồi mà tiếng oanh vàng vẫn còn thỏ thẻ cứ rót vào tai khiến đạo sĩ mất thần thông phải đi bộ về núi, sau phải tu hành vất vả mãi mới hồi phục lại mức định như cũ.  
Thế mới biết khi chưa tận diệt được nghiệp, tâm con người vẫn bị nghiệp lực trói buộc trong cảnh giới luân hồi vậy.
b/3 Vận dụng Phật Pháp và kiến thức về bảy vầng hào quang để nhận biết cảnh giới sáu đạo luân hồi và ba cõi luân hồi của con người sau khi chết.
Theo Phật Pháp cảnh giới của lục đạo luân hồi là cảnh giới mà con người  phải chịu khổ báo hoặc được hưởng phúc báo của nhân ác, nhân thiện do họ tạo ra khi còn sống:
 Cảnh giới địa ngục.
Nếu cảnh giới tâm của con người khi sống là thuần ác nên chỉ còn 2 vầng hào quang.
Khi chết thần thức nhận vầng hào quang cảm giác sắc ấm làm thân (thân sắc ấm) và vầng hào quang nhân quả có vỏ bọc dầy nhất 1,3 cm bao bọc bên ngoài. Rồi rời khỏi sắc thân.
Do chỉ còn 2 vầng hào quang, kích thước là nhỏ nhất nên nặng liền bị chìm sâu trong lòng đất vì thế gọi là cảnh giới địa ngục.
Do vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả là dầy nhất nên thần thức không thông ra ngoài được vì thế không có thần thông trí tuệ thấy nghe biết.
Cho nên thần thức hoàn toàn bị cô lập với cảnh ngoài. Những chủng tử ý nghiệp ác trong tàng thức (bộ nhớ ) của thần thức luôn hiện ra trong tâm những cơn ác mộng triền miên không bao giờ dứt về những cảnh họ bị tra tấn cực hình, chết đi sống lại hãi hùng không sao tả siết. Chịu quả báo ý nghiệp ác của địa ngục cho đến khi thần thức bức xạ thêm 2 vầng hào quang nữa là vầng hào quang cảm xúc thọ ấm và vầng hào quang tâm thần tưởng ấm. Mới chịu xong quả báo ý nghiệp ác của cảnh giới địa ngục, và được sinh lên cảnh giới cao hơn là cảnh giới ngạ quỷ để tiếp tục chịu nốt món nợ ý nghiệp ác của cảnh giới ngạ quỷ này.
* Cảnh giới ngạ quỷ.
Nếu cảnh giới tâm của người khi sống là cực ác nên chỉ còn 4 vầng hào quang.
Khi chết thần thức nhận vầng hào quang cảm giác sắc ấm làm thân, cùng với vầng hào quang cảm xúc thọ ấm, vầng hào quang tâm thần tưởng ấm và vầng hào quang nhân quả có vỏ bọc dày nhất bao bọc bên ngoài. Rồi rời khỏi xác thân. Kích thước của 4 vầng vẫn còn quá nhỏ nên còn nặng liền bị chìm vào những hầm hố hang động dưới mặt đất.
Gọi là cảnh giới ngạ quỷ.
Do vầng hào quang nhân quả vẫn còn ở vị trí gần thân nhất, vỏ bọc của vầng vẫn dày nhất, nên cũng giống với cảnh giới địa ngục là thần thức hoàn toàn bị cô lập với cảnh ngoài.
Những chủng tử ý nghiệp ác mà họ đã tạo ra ở kiếp trước được giữ lại trong tàng thức của thần thức luôn hiện ra trong tâm những cơn ác mộng triền miên không bao giờ dứt về những cảnh đói khát, kêu la vô cùng thảm thiết. Họ phải chịu quả báo về ý nghiệp ác  cho đến khi thần thức bức xạ thêm ra 2 vầng hào quang nữa là vầng hào quang tinh tú tưởng ấm và vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm, là chịu xong quả báo về  cảnh giới ngạ quỷ. Mới được sinh lên cảnh giới cao hơn là cảnh giới súc sinh, để phải chịu tiếp quả báo về thân khẩu nghiệp ác mà họ gây ra ở kiếp sống trước.
*Cảnh giới súc sinh.
Nếu cảnh giới tâm con người khi sống là quá ác nên chỉ còn 6 vầng hào quang.
Khi chết thần thức của họ nhận vầng hào quang sắc ấm làm thân cùng với 4 vầng hào quang là vầng hào quang cảm giác thọ ấm, vầng hào quang tâm thần tưởng ấm, vầng hào quang tinh tú tưởng ấm, vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm và vầng hào quang nhân quả có vỏ bọc mỏng hơn 1,3cm một chút bao bọc bên ngoài. Rồi rời khỏi sắc thân.  
Kích thước 6 vầng hào quang vẫn nhỏ nên còn hơi nặng. Vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả vẫn còn quá dày nên thần thông trí tuệ thấy nghe biết mờ mịt thấp kém.
Cảnh giới tâm khi sống lại bị mất vầng hào quang thượng giới thức ấm là vầng thứ 6 (không còn ý thức). Vì thế cảnh giới tâm của họ thấp hơn cảnh giới tâm của con người còn đủ 7 vầng hào quang.
Nên phải tìm đến đầu thai vào cảnh giới tương ứng là súc sinh (gia súc, gia cầm) mà có thấy nghe hay, và nhờ vào thân súc sinh ấy mà “trả nợ cho người” về những nghiệp ác của thân khẩu do họ gây ra khi còn sống.
Nhân quả nghiệp báo về cảnh giới súc sinh ghi trong bản đồ 10 Pháp Giới  đã làm rõ ý phân tích ở trên:
“ Ngu si biếng nhác.
Dối gạt móc biêu.
Làm thân súc vật.
Trả nợ cho người”.

Họ phải chịu quả báo về cảnh giới súc sinh này cho đến khi thần thức bức xạ thêm vầng hào quang thứ 6 là vầng hào quang thượng giới thức ấm.
Để có đủ 7 vầng hào quang mới sinh lên cảnh giới tâm cao hơn đó là cảnh giới tâm của người âm, rồi chờ duyên cha mẹ để được sinh lại làm người.
*Cảnh giới con người.
Cảnh giới tâm đủ bảy vầng hào quang, sau khi chết thần thức nhận vầng hào quang cảm giác sắc ấm làm thân, rời khỏi xác thân cùng với năm vầng hào quang bốn ấm, bị vầng hào quang nhân quả bao bọc dẫn đi tìm duyên cha mẹ để đầu thai vào thân mới. Nếu gặp duyên cha mẹ thì được sinh lại làm người.
Quá trình hình thành bào thai diễn ra như sau: Thần thức nhập thai cùng thời điểm với trứng được thụ tinh.
Năng lượng của sáu vầng hào quang năm ấm rút vào thần thức ngay trong thời điểm đó, để rồi nạp vào tế bào thần kinh.  
Cũng trong thời điểm đó, năng lượng nghiệp nhân thiện ác của thân khẩu nghiệp thiện ác trong vầng hào quang nhân quả cũng rút vào nhập thai để làm nhiệm vụ chọn gen sinh ra xác thân của hài nhi.
Khi hài nhi chào đời, thần thức lại bức xạ năng lượng qua sáu luân xa của hài nhi tạo ra sáu vầng hào quang năm ấm.
Sáu vầng hào quang năm ấm này có vị trí xa thân gần thân, mầu sắc và đặc trưng của các vầng đúng như cảnh giới của sáu vầng trước lúc nhập thai.
Cùng lúc đó năng lượng nghiệp nhân thiện ác sau khi làm nhiệm vụ chọn gen lại bức xạ qua luân xa bảy của hài nhi thành vầng hào quang nhân quả bao bọc sáu vầng hào quang năm ấm và xác thân của hài nhi đó.
Qua quá trình hình thành bào thai, xin rút ra nhận định và kết luận sau: Gen di truyền từ thân thế hệ trước sang thân  thế  hệ  sau,  hai  thân  là  khác  nhau, nhưng thần thức, năm ấm và nghiệp thiện ác của thân khẩu do thân trước tạo ra tồn tại cho đến lúc nhập thai, truyền từ thân trước sang thân sau không hề thay đổi. Chỉ vì tâm mê năm ấm, khi chết thì u minh mờ mịt, khi nhập thai lại u minh mờ mịt hơn, khi ra thai xác thân vừa đau đớn vừa phải tiếp xúc với môi trường khác hẳn khi còn nằm trong bụng mẹ như không khí, ánh sáng, nhiệt độ v.v…nên quên hết tiền kiếp là như vậy.
Trong kinh Phật có câu: “Bồ tát còn quên khi cách ấm, Thanh Văn chẳng nhớ lúc ra thai”.
Bồ Tát, Thanh Văn là các vị tu hành đắc đạo, có trí tuệ mà khi “cách ấm” (năm ấm trước lúc nhập thai và năm ấm sau khi ra thai cách nhau giữa hai thân cũ, mới qua thời gian chín tháng ở trong thai) còn quên mất tiền kiếp huống chi là con người bình thường. Trong câu chuyện thay thân đổi xác giữa cô Cà Mâu và cô Bạc Liêu.
Thần thức, năm ấm và nghiệp của cô Cà Mâu sau khi chết không phải vào thai ra thai mà nhận ngay thân mới có sẵn của cô Bạc Liêu nên vẫn nhớ nguyên tiền kiếp đã làm sáng tỏ nhận định và kinh Phật dẫn ở trên.
Câu chuyện về cô Cà Mâu trích trong tập Phật học phổ thông của Hòa thượng Thích Thiện Hoa xảy ra như sau: “Tại sứ Đầm Dơi Cà Mâu ở làng Tân Việt.
Gia đình ông Cả Hiêu có cô con gái 19 tuổi bị bệnh rồi qua đời.
Gia đình khóc thương thảm thiết, trong niềm đau đớn tột độ đó, ai cũng mong sao cho con gái sống trở lại với gia đình vì cô còn quá trẻ, lại là cô gái đẹp đẽ dễ thương, dễ mến.  
Cùng thời điểm đó có chuyện lạ lùng là cách đó khoảng 100 cây số ở làng Vĩnh Mỹ Bạc Liêu.
Gia đình ông Hương Thừa có cô con gái trẻ dễ thương, đẹp đẽ cũng bị bệnh rồi  qua  đời.  
Gia  đình  khóc  thương  thảm thiết chuẩn bị ma chay tẩm liệm.
Thế nhưng như một phép lạ, một ngày sau khi chết cô gái bỗng nhiên sống dậy và chỉ sau vài ngày tĩnh dưỡng, cô gái đã mạnh khỏe như thường, không nhắc chi bệnh trạng đã làm cô chết.
Cả gia đình nửa mừng nửa sợ không biết tại sao cô sống lại được, trong khi cô đã chết một ngày rồi.
Cả nhà còn đang hồi hộp bán tín bán nghi cô gái nói cô là con gái của ông Cả Hiêu ở làng Tân Việt sứ Đầm Dơi Cà Mau chứ không phải con của gia đình này.
Gia đình càng hoảng sợ cho rằng ma nhập xác nên đã mời thầy trừ tà đến cúng.
Cô gái thì tỉnh bơ và cứ nhắc đi nhắc lại là cô không phải là ma quỷ mà là con gái ông Cả Hiêu và đòi dẫn về nhà cũ ở cách đó độ 100 cây số.
Qua mấy ngày trắc nghiệm thấy cô không phải quỷ ám ma nhập gì cả mà hoàn toàn là cô không hiểu chi về gia đình này một mảy may nào.
Cô cũng không biết gì về thời thơ ấu của cô cho đến hiện tại, quả thật cô là một người hoàn toàn khác.
Do đó mà gia đình nhà ông Hương Thừa đồng ý theo sự dẫn đường của cô đi Cà Mau đến làng Tân Việt để tìm hiểu thật hư thế nào.
Khi vừa vào nhà ông Cả Hiêu, cả nhà còn ngơ ngác chưa biết thật hư thế nào cô đã chạy đến ôm hôn cha mẹ là ông bà Cả Hiêu nói rằng con đã về đây, chào hỏi mừng rỡ với mọi người trong gia đình rồi đi rót nước pha trà mời mọi người khách đúng như người con gái trong gia đình, cái gì để chỗ nào cũng biết. Sau nhiều lần trắc nghiệm hỏi cô về quá khứ của cô và những việc trong gia đình.
Ông Cả Hiêu xác nhận đúng là con gái yêu quý của họ thật sự mặc dầu với một thân hình khác.
Từ đó hai gia đình kết thân với nhau, cô gái ấy sau này được hưởng hai phần gia tài của hai gia đình ”.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp nhưng rất cá biệt là khi thần thức năm ấm và nghiệp nhập thai ra thai mà vẫn nhớ nguyên tiền kiếp như câu chuyện do hòa thượng Thích Thiện Hoa du học ở Đê Ly thủ đô Ấn Độ sưu tầm và kể lại như sau: Một cô bé mới sáu tuổi sinh ra trong một gia trình ở Đê Ly nhớ lại tiền kiếp.  
Cô bé kể lại cho bố mẹ nghe về chồng con và nơi ở của cô ở kiếp trước rất rõ ràng.
Bố mẹ cô cho là cô bị bệnh thần kinh, tìm thầy chữa bệnh nhưng cô bé vấn chẳng sao, thỉnh thoảng lại kể về chuyện đó và xin bố mẹ cho cô về thăm lại chồng con.
Đến năm tám tuổi, cha mẹ mới đồng ý và mời một phóng viên nhà báo cùng đi.
Đường xa hơn hai trăm cây số, khi về tới nhà bố mẹ chồng, cô bé mừng rỡ và kể lại chuyện cũ, bố mẹ chồng đều công nhận là đúng.
Khi về tới cửa nhà mình, cô nói với mọi người tường vôi trước là màu trắng, nay đã quét lại mầu khác.
Vào nhà gặp lại đứa con. Cô ôm lấy nó và nói mẹ đã về đây. Gặp chồng (người chồng này đã lấy vợ khác) cô mừng rỡ và kể lại chuyện cũ.
Người chồng đó xác nhận những điều cô nói là đúng.
Đặc biệt, cô chỉ chiếc đồng hồ treo trên tường và nói chiếc đồng hồ này là quà tặng có ghi chữ ở mặt sau.
Khi hạ chiếc đồng hồ xuống xem thì đúng như lời cô nói. Cô bé tám tuổi đó lớn lên học sư phạm và làm hiệu trưởng một trường học ở Đê Ly.
Hòa thượng Thích Thiện Hoa đã đến thăm và chụp chung với bà hiệu trưởng đó một kiểu ảnh để làm nhân chứng cho chuyện kể của mình.
Việc nhớ lại tiền kiếp còn xảy ra trong những trường hợp xuất hiện các thần đồng. Có phải họ là những người tài giỏi, trước khi chết họ rất tiếc khả năng tài ba của họ, muốn sống tiếp để được tiếp tục cống hiến hoặc công trình nghiên cứu còn đang dang dở hay cuốn sách họ viết chưa xong họ muốn sống tiếp để hoàn thành thì bị chết.
Do nguyện vọng tốt đẹp và ý chí mạnh mẽ đó đã tạo nên phúc báo lớn ở kiếp sau, khiến họ nhớ lại kiến thức và khả năng tài ba ở kiếp trước chăng?!...Quá trình hình thành bào thai để được sinh lại làm người và các chuyện kể, đã làm sáng tỏ chết không phải là hết mà là luân hồi trong sáu đạo, và khi chết muôn thứ mang chẳng được, chỉ có nghiệp theo mình như lời Phật dạy vậy.
Nếu  không  gặp  duyên  cha  mẹ,  thần thức vẫn nhận vầng hào quang cảm giác sắc ấm làm thân cùng năm vầng hào quang bốn ấm thọ tưởng hành thức và vầng hào quang nhân quả bao ngoài (bảy vầng) cùng tồn tại với cảnh giới của con người. Vì sắc thân của họ là hào quang năng lượng, mắt người không nhìn thấy được nên gọi là bóng ma.
Không gian mặt đất của bóng ma là một với không gian mặt đất của con người nên phân biệt gọi là người âm.
Vì thế có câu “trần sao âm vậy”.
Họ vẫn đi về trên con đường mà khi còn sống họ đi, họ cũng đi chợ mà khi còn sống họ thường đến, họ đến gian hàng của người nhà hay người quen mà chẳng ai  hỏi  họ, họ  muốn  giao  tiếp  mà  chẳng giao tiếp được vì họ không còn thân người, không còn sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý để tiếp xúc với sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên sáu thức trong vầng hào quang thượng giới thức ấm không hiện hành ra được, vì thế họ không còn thấy nghe hay biết như khi còn sống. Nhưng họ thấy nghe biết bằng thần thông do phúc báo mà có.
Tại sao do phúc báo lại có thần thông?
Vì khi chết, thần thức không còn bị lớp ngăn che bên trong là thân năm uẩn (tế bào thần kinh và sáu luân xa) chỉ còn bị hai lớp ngăn che bên ngoài là vầng hào quang cảm giác sắc ấm và vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả nên năng lượng thần thức hiển lộ ra ngoài vỏ bọc này thành thần thông trí tuệ thấy nghe biết cảnh ngoài cả cảnh giới hữu hình (cảnh giới của người đang sống) và cảnh giới vô hình (cảnh giới của người âm).
Vỏ bọc càng mỏng thần thông càng mạnh. Vỏ bọc mỏng là do năng lượng nghiệp nhân thiện của thân khẩu nghiệp thiện lớn hơn năng lượng nghiệp nhân ác của thân khẩu nghiệp ác.
Vì thế nói nhờ phúc báo mà có thần thông là như vậy (phúc  báo  là  quả báo  của  nghiệp  nhân  thiện).
Thần  thông thuộc về năng lượng trí tuệ nên nó chân thật, không so đo tính toán, phân biệt khôn ngoan như ý thức của con người khi còn sống.
Nếu khi sống giữ gìn ngũ giới nhiều, hành nhiều nghiệp thiện về thân khẩu, thần thông  của  họ  sẽ  mạnh  nên  có  câu  “sống khôn chết thiêng”.
Nhờ có thần thông mạnh mà họ phù hộ được cho con cháu, người thân còn đang sống và cho ma quyến thuộc nương nhờ.
Do có thiên nhãn thông nên họ biết trước những chuyện tốt xấu sẽ xảy ra với người thân, họ gửi thông tin qua người khác, hoặc nhập vào người khác để nói hay báo mộng cho mà biết.  
Cũng có khi họ biết người thân sẽ bị tai nạn xảy ra ở đâu, họ sẽ theo và khi tai nạn xảy ra, họ dùng thần túc thông giúp người thân thoát khỏi tai nạn đó v.v…  
Nếu khi sống giữ gìn ngũ giới ít thần thông sẽ yếu hay rất yếu, họ không có khả năng phù hộ cho người thân, họ chỉ là những bóng ma vật vờ nơi đầu đường góc chợ hoặc thường quẩn quanh bên mộ của mình, gắn bó với cái xác chết chôn dưới đó v.v…Việc tiến cúng vào những ngày giỗ hay tuần rằm tết nhất, người âm chỉ thọ nhận những thứ tiến cúng chứ không thọ hưởng được vì họ không có sáu căn tiếp xúc với những thứ tiến cúng nên sáu thức trong vầng hào quang thượng giới thức ấm không hiện hành để thọ hưởng được.
Còn thọ nhận là do thần thông mà thần thông thuộc về trí tuệ nên chỉ thọ nhận các thứ tiến cúng chứ không so đo phân biệt nhiều ít, đẹp xấu v.v… Vì thế chỉ nên cúng giỗ đơn giản.
Nếu làm to, cúng mặn khiến họ phải chịu thêm nghiệp sát, làm giảm thần thông của họ mà thôi.
Người âm không thọ hưởng được các thứ  tiến  cúng  nhưng  lại  thọ  hưởng  được tình cảm thương nhớ, ý nghĩ tốt đẹp đối với họ và thường cầu mong cho họ được mát mẻ, siêu thoát, bởi vì đặc trưng tâm của họ vẫn còn đủ tình cảm yêu thương, hờn giận, khổ, vui. Họ lại có tha tâm thông nên đọc được những ý nghĩ, tình cảm đó của người thân đối với họ.
Ở cảnh giới cõi âm vì không có thân người nên họ không tạo được thiện nghiệp. Họ cần người sống tạo thiện nghiệp hồi hướng công đức cho họ sớm gặp duyên cha mẹ để được sinh lại làm người.

nhuphong

Tổng số bài gửi : 19
Location : normal
Registration date : 12/08/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết