ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI p3

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI p3

Bài gửi  nhuphong on Fri Oct 23, 2015 9:54 am

3. Nhận thức bổ sung về thân, tâm con người.
a. Vận dụng, liên hệ, đối chiếu giữa kiến thức Phật pháp, kiến thức khoa học và thành tựu khoa hoc hiện đại về 7 vầng hào quang bao quanh cơ thể con người đẻ lý giải lời dạy của Phật.
“Năm uẩn ngăn che trí tuệ, sinh ra năm ấm”
dẫn đến kết luận: sáu vầng hào quang bức xạ từ luân xa 1 đến luân xa 6 chính là 5 lớp mê sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm:
a/1. Thành tựu khoa học hiện đại về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể con người. (Trích sách Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học.
Tác giả: Nguyễn Đình Phư do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành tháng 8/1995 từ trang 138 - 143).
1. Cấu trúc và hào quang của con người.

Hệ thống hào quang được nhìn nhận từ xưa đến nay, có những khác biệt về tên gọi,  màu  sắc,  số  vầng.  
Hào  quang  có  thể cao 2,5m và rộng 1m bao quanh thân người.
Hình dạng hào quang giống hệt như một quả trứng.
Trường hào quang là nơi giao tiếp năng lượng và thông tin của cơ thể và môi trường chung quanh.
Hào quang được phân ra nhiều vầng khác nhau.
Các vầng lẻ 1, 3, 5, 7 có màu rõ rệt, còn các vầng chẵn hơi mờ.
2. Cấu trúc cụ thể.
Năng  lượng  sinh  học  bao  quanh  con người tạo ra bảy vầng hào quang khác nhau.
Đặc thù của mỗi vầng quyết định hình thái của cơ thể sống.
Trong phạm vi nghiên cứu một cách phổ cập, chúng ta quan sát bảy vầng hào quang theo thứ tự:
a. Vầng cảm giác.
- Vị trí: từ da ra 2,5cm, bao sát thân thể, có hình dạng như thân thể.
Giữ vai trò như một cái khung gồm những vạch năng lượng để tế bào dựa vào tồn tại và sinh sôi phát triển.
- Màu sắc: Màu xanh trong, nhạt, có khi xanh xám.
-  Đặc  trưng:  cảm  giác  thể  chất,  hoạt động thể chất.
b. Vầng cảm xúc.
- Vị trí: Cách da 2,5 – 7,5cm.
- Màu sắc: Màu thay đổi từ vàng chói đến xám xịt nhưng lại chứa tất cả các màu của cầu vồng.
- Đặc trưng: Cảm xúc, cảm nghĩ.
c. Vầng tâm thần.
- Vị trí: cách da 7,5 – 20,5cm.
- Màu sắc: màu vàng chói.
- Đặc trưng: Đời sống tư duy.
d. Vầng tinh tú.
- Vị trí: cách da 15 – 25cm.
- Màu sắc: màu hồng là chủ yếu.
- Đặc trưng: tình cảm yêu thương.
e. Vầng hình thái bổ sung.
- Vị trí: Cách da 15 – 60cm, vầng hình trái xoan.
- Màu sắc: màu trong suốt trên nền cô ban.
- Đặc trưng: thái độ, lời nói, trách nhiệm.
f. Vầng thượng giới.
- Vị trí: cách da 60 – 82cm.
- Màu sắc: màu phấn là chủ yếu.
- Đặc trưng: trí tưởng tượng, suy đoán vượt qua giới hạn hữu hình.
g. Vầng nhân quả.
-Vị trí: tiếp nối vùng hình thái bổ sung, kích thước tùy thuộc bản thể.
- Màu sắc: gồm những sợi tơ vàng lấp lánh, cấu trúc vỏ dày 0,6 – 1,3cm, là nơi giao tiếp và phòng vệ năng lượng với môi trường, có tần số rung động lớn.
- Đặc  trưng:  Bản  thể  vật  chất  và  đời sống tâm linh là nơi chứa đựng sơ đồ cuộc sống, trải nghiệm trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Đóng vai trò như một màn hình display để trình chiếu các cuốn băng video - tế bào ghi trải nghiệm cuộc sống.
Như vậy, hào quang của con người phân thành bảy vùng, luôn biểu hiện cảm giác, cảm xúc, ý nghĩ, ký ức, những trải nghiệm cuộc đời, bộc lộ tính cách đặc trưng và trạng thái sức khỏe của người đó.
Hào quang hình thành lớp vỏ giao tiếp và phòng vệ năng lượng cho bản thể.”
3. Hào quang và luân xa.

Các sóng năng lượng sinh học tồn tại trong hào quang.
Theo các nhà nghiên cứu thì sóng này là sóng đứng, chúng đan chéo nhau giao thoa tạo ra điểm hút năng lượng.
Mối quan hệ giữa sóng năng lượng và hệ thống luân xa được mô tả như sau:
a. Luân xa chính.
Là giao thoa của 21 sóng năng lượng sinh học, chúng nằm trên dòng chảy lớn theo mạch nhâm về mạch đốc.
b. Luân xa phụ.
Là giao thoa của 14 sóng năng lượng sinh học.
Luân xa phụ nằm trên hai lòng bàn tay và lòng bàn chân.
c. Các huyệt châm cứu.
Là giao thoa của n (n<=7) sóng năng lượng sinh học.
Chúng có tới hơn một nghìn điểm nằm rải rác khắp cơ thể.
Luân xa là cửa ngõ, nơi giao tiếp năng lượng của thân thể với môi trường.
Chính tại mỗi luân xa, vầng vật chất tự phát sáng.
Mỗi luân xa liên quan đến một vầng hào quang và có chức năng riêng trong sự thụ nhận, điều chỉnh năng lượng bảo vệ sức khoẻ.
4. Mối quan hệ giữa các luân xa và các vầng hào quang.
Quan hệ giữa luân xa và các vầng hào quang được kiểm nhận qua trải nghiệm tập luyện và quan sát thực tiễn:
a. Vầng cảm giác liên quan đến luân xa 1.
b. Vầng cảm xúc liên quan đến luân xa 2.
c. Vầng tâm thần liên quan đến luân xa 3.
d. Vầng tinh tú liên quan đến luân xa 4.
e. Vầng hình thái bổ sung liên quan đến luân xa 5.
f. Vầng thượng giới liên quan đến luân xa 6.
g. Vầng nhân quả liên quan đến luân xa 7.
Mức năng lượng sinh học ở mỗi luân xa liên quan đến độ sáng, màu sắc và kích thước của mỗi vầng hào quang.
Vấn đề này chúng ta sẽ có dịp làm quen trong các bài giảng về bản chất ánh sáng của năng lượng sinh học.




a/2. Lý giải lời dạy của Phật.
“Năm uẩn ngăn che trí tuệ sinh ra năm ấm” dẫn đến kết luận: sáu vầng hào quang bức xạ từ luân xa 1 đến luân xa 6 chính là 5 lớp mê sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm
 Lý giải về năm uẩn.

Thân  thể  con  người  do  năm  uẩn  tạo nên.
Uẩn là chứa nhóm.
Vậy thân thể con người gồm năm nhóm vật chất là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
Trong năm nhóm vật chất này thì sắc uẩn là thân thịt xương da máu mủ.
Bốn uẩn còn lại chính là phần còn lại của thân thể là hệ thần kinh.
Hệ thần kinh là do hơn hai tỷ tế bào thần kinh tạo nên.
Hơn hai tỷ tế bào thần kinh này tích chứa hay tiềm ẩn năng lượng trí tuệ của con người, chia thành bốn nhóm.
Nhóm tế bào thần kinh tích chứa hay tiềm ẩn năng lượng trí tuệ thuộc về thọ (cảm giác, cảm xúc khổ vui).
Nhóm thuộc về tưởng (tư duy, tình cảm).
Nhóm thuộc về hành (thiện, ác).
Nhóm thuộc về thức (nhận biết).
 Lý giải về ngăn che trí tuệ.
* Trí tuệ:
Trí tuệ của con người chính là năng lượng của thức A lại da hay thức thứ 8 còn gọi là thần thức:
Năng lượng trí tuệ thần thức này tích chứa hay tiềm ẩn trong hơn hai tỷ tế bào thần kinh chia làm bốn nhóm thọ tưởng hành thức.
Có thể ví mỗi tế bào thần kinh của hệ thần kinh như một chiếc pin.
Pin thường thì nạp bằng năng lượng của dòng điện một chiều (năng lượng vật lý).
Còn pin tế bào thì nạp bằng năng lượng trí tuệ thần thức (năng  lượng  tâm  linh).  
Pin  thường  dùng hết điện năng thì bỏ hoặc làm lại, còn pin tế bào nạp năng lượng một lần khi thần thức nhập thai, sử dụng cho đến khi chết.
Thần thức rời khỏi xác thân lại rút năng lượng trí tuệ thần thức ra khỏi pin tế bào của hệ thần kinh xác thân này.
Đến khi nhập thai lại nạp năng lượng trí tuệ thần thức vào pin tế bào hệ thần kinh của thân mới.
* Ngăn che trí tuệ.
Do bị năm uẩn ngăn che trí tuệ.
Cụ thể là hơn 2 tỷ tế bào thần kinh của hệ thần kinh (4 uẩn: thọ, tưởng, hành, thức) và lớp da bọc ngoài của thân thịt xương da máu (sắc uẩn) ngăn che.
Nên con người không sống bằng tâm trí tuệ thần thức được, mà phải sống bằng tâm mê do trí tuệ thần thức bị năm uẩn ngăn che mà sinh ra.
Đó là năm ấm: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm.
 Lý giải về năm ấm.
Tâm con người vốn là trí tuệ thần thức, thấy nghe biết bằng thần thông trí tuệ rất vi diệu.
Nhưng vì bị năm uẩn ngăn che sinh ra năm ấm là: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm.
Là năm lớp mê lầm mà con người đã nhận năm lớp mê lầm năm ấm này là tâm tính của mình.
Nhận cái thân thịt xương da máu hôi tanh là thể xác của mình (sắc ấm).
Cả ngày tôi khổ tôi vui, nhận thọ ấm là mình.
Tôi yêu tôi ghét, nhận tưởng ấm là mình.
Tôi thiện tôi ác, nhận hành ấm là mình.
Tôi nhận tôi biết, nhận thức ấm là mình.
Cái xác thân thịt xương da máu nó có sáu căn là mắt tai mũi lưỡi thân ý.
Sáu căn này duyên theo sáu trần là sắc thanh hương vị xúc pháp nên có thấy nghe hay.
Do sáu căn có thấy nghe hay mà sáu thức trong lớp mê thức ấm mới nhận biết được những cái thấy nghe hay ấy của 6 căn đối với cảnh ngoài.
Vì thế kinh Lăng Nghiêm mới gọi cái tâm mê lầm năm ấm là thức tâm phan duyên, chính là vọng tâm hay tâm mê của con người vậy.
So  sánh  đối  chiếu  giữa  sáu  vầng  hào quang từ vầng 1 đến vầng 6 bao quanh cơ thể con người với năm lớp mê năm ấm thấy chúng đều từ các tế bào thần kinh có trong thần kinh hệ hay các tế bào thần kinh của bốn nhóm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn bức xạ ra hay sinh ra.
Cùng với sự giống nhau giữa đặc trưng của sáu vầng với đặc trưng của 5 lớp mê năm ấm.
Rút ra kết luận: sáu vầng hào quang từ 1 đến 6 chính là 5 lớp mê năm ấm.
So sánh đối chiếu theo sơ đồ sau.



b. Thành tựu khoa học hiện đại về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể con người đã làm sáng tỏ đạo lý nhân quả luân hồi của Phật là chân thật, khách quan và khoa học.
b/1 Vận dụng Phật Pháp để nhận biết về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể:

  Năng lượng thần thức trong các tế bào thần kinh của thần kinh hệ (bốn uẩn thọ tưởng hành thức) bức xạ ra ngoài qua 6 luân xa lớn từ 1-6 trên mặt da của xác thân (sắc uẩn) thành 6 vầng hào quang 5 ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm).
Con người đã nhận đặc trưng của 6 vầng hào quang năm ấm là tâm tính của mình:
- Thân này là tôi, của tôi là đặc trưng của vầng hào quang cảm giác, sắc ấm (qua LX1).
- Tôi vui, tôi khổ, đặc trưng của vầng hào quang cảm xúc thọ ấm (LX2).
- Tôi tư duy, đặc trưng của vầng hào quang tâm thần tưởng ấm (LX3).
- Tôi yêu, tôi ghét, đặc trưng của vầng hào quang tinh tú tưởng ấm (LX4).
- Tôi thiện, tôi ác, đặc trưng của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm (LX5).
- Tôi nhận, tôi biết, đặc trưng của vầng hào quang thượng giới thức ấm (LX6).
Cái tâm tính này Phật Pháp gọi là vọng tâm hay tâm sinh diệt vậy.
Còn vầng hào quang nhân quả bức xạ qua luân xa 7 do đâu mà có?
Xin lý giải như sau: Tâm con người lúc thiện lúc ác là do đặc trưng của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm.
Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là thiện sẽ thúc đẩy thân và khẩu  (miệng)  hành nghiệp thiện.
Khi đặc trưng tâm của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là ác (si) sẽ sinh phiền não tham sân, thúc đẩy thân và khẩu hành nghiệp ác.
Năng lượng nghiệp  nhân thiện ác  của thân  khẩu này được giữ lại trong nhân tế bào sắc uẩn và từ gen tốt xấu của nhân tế bào sắc uẩn bức xạ qua luân xa 7 tạo thành vầng hào quang nhân quả.
Vị trí tiếp nối với vầng hòa quang hình thái bổ sung hành ấm.  
Tại sao vầng hào quang nhân quả lại tiếp nối với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm?
Vì năng lượng của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm là năng lượng của nghiệp nhân ý nghiệp thiện ác.
Khi năng lượng của nghiệp nhân ý nghiệp thiện ác tăng thì năng lượng nghiệp nhân thiện ác của thân khẩu cũng  tăng.  
Vầng  hào  quang  hình  thái  bổ sung hành ấm giãn ra xa thân thì vầng hào quang nhân quả cũng giãn ra xa thân.
Và ngược lại, vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm co lại thì vầng hào quang nhân quả cũng co lại.
Vậy hai vầng hào quang là khác nhau,  tuy  là  hai  nhưng  chính  lại  là  một: vầng hào quang của nghiệp nhân, ý, thân, khẩu, nghiệp thiện ác vậy.  
Vầng hào quang nhân quả bao bọc sáu vầng hào quang năm ấm, có vỏ bọc dày từ 0,6cm đến 1,3cm, có tần số dao động lớn, là nơi giao tiếp và phòng vệ năng lượng với môi trường.
Vị trí của vầng và kích thước của vỏ bọc phụ thuộc bản thể.

nhuphong

Tổng số bài gửi : 19
Location : normal
Registration date : 12/08/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết