Chánh niệm, Tà niệm, Thất niệm và Vọng niệm

Go down

Chánh niệm, Tà niệm, Thất niệm và Vọng niệm

Bài gửi  anlac999 on Tue Apr 26, 2011 9:16 am

Niệm có nghĩa là tâm đang có trong lúc này, tại chỗ này và tâm ở chung với thân. Chánh niệm là nhận biết cái đang là, đang có mặt và diễn ra trong hiện tại, tránh sự rong ruổi về quá khứ hay phóng tới tương lai. Rong ruổi về quá khứ gọi là hoài niệm và phóng tới tương lai gọi là vọng niệm. Cả hai thứ niệm này đều không phải là chánh niệm vì người đánh mất mình trong hiện tại, và thực tại dĩ nhiên trở nên xóa nhòa. Nếu hiện tại bị lôi kéo bởi những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, suy nghĩ của sắc dục thì chánh niệm cũng không có vì đối tượng niệm không chân chính. Niệm là buông bỏ quá khứ, tương lai lẫn hiện tại và chỉ còn thực tại đang là. Có bốn đối tượng của niệm: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Trong thực tập thiền, sử dụng các đối tượng này làm đề mục thiền quán để nhìn thấy tính vô thường, vô ngã và Niết Bàn của chúng. Quán chiếu về cơ thể, biết sự vận hành của cơ thể là niệm thân. Khi đi biết mình đang đi. Khi ngồi biết mình đang ngồi. Khi thân thể đau nhức, biết thân thể đau nhức. Khi thân thể khỏe mạnh, biết thân thể khỏe mạnh. An trú trong cái biết về thân thể như an trú trong sự đi, sự ngồi, sự đau nhức, sự khỏe mạnh là có chánh niệm về thân thể. Khi vui biết mình đang vui. Khi buồn biết mình đang buồn. Khi dễ chịu biết mình đang dễ chịu. Khi không dễ chịu biết mình đang không dễ chịu. An trú trong cái biết về vui, về buồn, về dễ chịu, về không dễ chịu là có chánh niệm về thọ. Không biết về thọ sẽ để cho các cảm xúc cuốn đi, trôi lăn trong những khoảnh khắc được cho là tâm trạng. Niệm tâm là niệm các loại tâm sở, được liệt kê trong sách Bảo Hiểm Tâm. Cho dù tâm thiện, tâm không thiện, tâm không thiện cũng không không thiện khởi lên, người thực tập niệm để nhận biết các dòng chảy của tâm nhằm làm lớn mạnh tâm thiện, giảm thiểu và làm yên tâm không thiện, bình thản với tâm không thiện lẫn không không thiện, đến khi không bị kẹt vào bất kỳ tâm nào. Tâm nào khởi lên thì niệm tâm đó, tính chất tĩnh lặng ở chỗ biết tâm. Niệm pháp là niệm đối tượng của tâm cho đến khi người và đối tượng của tâm trở thành một, không thấy sự khác biệt. Chánh niệm về pháp nghe có vẻ như quán chiếu những đối tượng bên ngoài mình nhưng nếu quán chiếu sâu sắc và hành trì đúng đắn, những cái bên ngoài cũng là bên trong và những cái bên trong cũng là bên ngoài cho đến khi chẳng có gì ngoài và cũng chẳng có gì trong. Việc chánh niệm chỉ có một đối tượng mà thôi và nếu niệm đối tượng khác thì phải buông đối tượng đang niệm. Vì vậy, người có thể niệm một vùng chánh niệm bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, như khi đang ngắm nhìn phong cảnh có mây, trời, đất, nước, chim chóc, cây cối… và cả phong cảnh gọi là vùng chánh niệm. Tu là sử dụng chánh niệm để có mặt trong hiện tại, tiếp xúc thực tại cùng tột, biết chuyện đang hiện tiền bên trong và bên ngoài, lúc này thực tại mới hiện tiền.

Chánh niệm là tỉnh thức và tỉnh thức là Phật. Phật là người tỉnh thức nên chánh niệm là Phật. Người tu đem chánh niệm ra mà hành trì vì có niệm thì mới có định và có định thì mới có tuệ. Môi trường tu học cần xây dựng môi trường chánh niệm hay văn hóa chánh niệm, theo đó mọi người nương nhau mà thực tập. Chánh niệm là một pháp tu để cho thân, miệng, hành động trở nên thanh tịnh. Sử dụng thân có chánh niệm trong việc sinh hoạt đời sống lành mạnh, đi vào chốn lành mạnh và ăn uống lành mạnh. Nói có chánh niệm là thực tập lời chánh ngữ, tôn trọng sự thật và cam kết hàn gắn các mối quan hệ con người. Hành động có chánh niệm là biết đang làm gì, không cho phạm giới mà đi vào con đường của phụng sự, tu tập. Niệm có nghĩa ức, nhớ và giữ gìn. Ức niệm là rà soát lại những gì còn nằm trong tàng thức và đánh thức nó dậy, như nhớ về kỷ niệm xa xưa, bây giờ nhắc lại, loại niệm này khiến người xa rời hiện tại. Nhớ niệm giống như học rồi nhớ lại và phát ra sự niệm. Đứa trẻ học thuộc lòng bài thơ, rồi đi trả bài cho thầy của nó, điều này hơi mang tính rập khuôn. Giữ gìn niệm như những lời khuyên được dạy và cố gắng nhắc nhở bản thân mà làm theo. Tụng giới là một cách khuyên tấn người giữ những gì đã được dạy để làm đẹp bản thân và nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Chánh niệm là làm chủ được chính mình, không để bị sai sử bởi những yếu tố bên trong lẫn bên ngoài như tâm bất thiện hay pháp bất thiện. Niệm một cách chân chính là không phán xét, không chỉ trích, không lên án về những đối tượng đang niệm. Khi hạnh phúc có mặt, niệm hạnh phúc, tâm sẽ không cố gắng níu kéo hạnh phúc, để hạnh phúc trôi đi tự nhiên. Khi khổ đau có mặt, niệm khổ đau, tâm sẽ không cố gắng xua đuổi khổ đau, để khổ đau đi đến tự nhiên. Có chánh niệm về thân gọi là tu thân, có chánh niệm về tâm gọi là tu tâm, có chánh niệm về hành động gọi là tu nghiệp… Cho nên nói tu là đem cái chánh niệm ra mà hành là như vậy. Biết chuyện gì đang xảy ra là biết niệm. Niệm nhưng không đòi hỏi nguyên nhân của niệm đích thực là nhận diện đơn thuần. Tìm hiểu về nguyên nhân của thực tại thì thực tại sẽ trôi đi. Người bị mũi tên bắn trúng thì lo chữa thương đã, đi kiếm tìm người bắn mình thì vết thương đã nặng, thậm chí nguy hiểm tới tính mạng.

Người tỉnh thức là người không còn đau khổ, buông bỏ được quá khứ, hiện tại và vị lai. Đau khổ hay hạnh phúc không làm hại được người. Trong chiều sâu của người, tỉnh thức vẫn ở đó chờ đợi người kêu gọi và bừng dậy. Nghe một tiếng niệm Phật, như lời nhắc nhở người hãy tỉnh thức đi thôi. Hãy làm một người còn thức tức là không ngủ trong những bờ cõi sinh tử triền miên, tỉnh tức là không mê trong những xốn xang cuộc đời. Cuộc đời đôi khi phải thét lên để lấp liếm cho biết bao khổ đau không chịu nổi nhưng tiếng thét cũng là lời cảnh tỉnh vì người đã đi xa bờ giải thoát lâu quá. Tiếng chuông chùa hay nhà thờ, tiếng khóc trẻ sơ sinh lúc chào đời, tiếng mẹ tâm sự với đứa con, tiếng côn trùng rộn rã khi cơn mưa chiều vụt tắt, tiếng tụng kinh giục giã người đừng mê nữa, đừng ngủ nữa. Đó là những tiếng thét gọi mời, hỡi người lạc đường, hãy trở về mau. Mỗi phút giây tỉnh thức làm cho vườn hoa nở trong tâm, khắc ghi việc hành trì kinh điển trong tâm. Khi tâm đạt tới mức như kinh điển, đó là tâm kinh, như những bài kinh dạy người lắng tâm. Bát Nhã Ba La Mật gọi là tâm kinh vì là bài kinh vẽ nên bức tranh tỉnh thức của tâm, tâm không. Tâm người và ta là một và tâm nuôi dưỡng những trái tim đồng dạng, hình dáng trái tim có thể to nhỏ khác nhau, nhịp đập lúc nhanh lúc chậm, nhưng nhiệm vụ chủ yếu là đem máu trở về tim, như dù cho đứa con đi xa cách mấy, biền biệt cách mấy vẫn trở về nhà thăm cha thăm mẹ, như dù hành trì bài kinh nào, pháp môn nào, hơi thở cũng đưa người về với giải thoát, thăm Phật thăm Bồ tát. Mẹ đang ngồi đó, cất tiếng ru ầu ơ, đứa em nằm trong nôi, bóng mẹ hằn lên vách, sừng sững như ngọn núi Tu Di. Nhà bên, tiếng trẻ ê a hát bài mừng tết trung thu, giọng hát vang khắp phố phường kêu gọi người về với gia đình. Trên cao, trăng vừa lên, soi sáng cả đại địa, vài áng mây bay qua nhưng không đủ che khuất cả vầng trăng. Các sư chú đang tụng kinh, tiếng chuông vang vào pháp giới, mong cho ai đó nghe thấy mà quay về, thôi bước chân hối hả. Tỉnh thức để thấy mẹ, để thấy đứa trẻ, để thấy trăng, để thấy tiếng chuông, để lắng lòng nghe sự sống đang có mặt.

Sự sống đầy dẫy những phép lạ. Mẹ là một phép lạ. Tiếng ê a trẻ thơ là một phép lạ. Vầng trăng là một phép lạ. Tiếng chuông là một phép lạ. Phép lạ không nằm ở chỗ đắc thần thông để bay trên mây hay nhấc người ra khỏi mặt đất mà phép lạ là đi trên mặt đất. Khi đi trên đường hay bước xuống cầu thang, tôi đều thiền hành vì tôi đang tận hưởng điều kỳ diệu của sự đi. Chạm đôi bàn chân vào mặt đất mà thấy sự sống ngút ngàn. Mình đi cho cha mẹ, cho trẻ thơ, cho vũ trụ bao la. Bấy lâu nay mình đi như bay, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ tiếng cười trẻ thơ, bỏ vũ trụ, bỏ sự sống và mình đang chết dần. Chỉ cần dừng lại, ngắm nghía đôi chân, đôi chân kỳ diệu đưa mình vào chánh niệm, vào Niết Bàn. Khi đi, người hãy đọc bài kệ, Từng bước cứ đi – Đạp vào sự sống – Không cần hối hả - Không cần vội vã – Niết Bàn là đây - Ở cuối chân mây – Mặt trời ló dạng – Khi đã chạng vạng – Trăng cũng vừa lên – Từng bước bỏ quên – Quá khứ tương lai – Hạnh phúc hiện tại – Bây giờ ở đây. Hối hả và vội vã giết chết sự sống nên mình hãy buông bỏ mà tận hưởng sự sống. Giải thoát là phá bỏ những vô minh đang xâm lăng sự sống, không làm cho sự sống bị héo tàn theo năm tháng. Chỉ cần bước một bước có chánh niệm, người đã giải thoát khỏi những buộc ràng của quá khứ, hiện tại, tương lai để an trú cùng với mặt trời, mặt trăng, trời xanh, mây trắng, chỉ còn lại Niết Bàn trong thực tại, đó đích thực là sự sống. Khi bước cầu thang, người hãy đọc bài kệ, Bước chân trên cầu thang – Thật khoan thai nhẹ nhàng – Từng bước vào tỉnh thức – Từng bước vào Niết Bàn. Lòng dặn lòng, một bước buông bỏ tâm tham, hai bước buông bỏ tâm sân, ba bước buông bỏ tâm si, nhiều bước buông bỏ những cái chấp. Tỉnh thức tức là biết khoan thai, biết nhẹ nhàng, biết chánh niệm, biết sự sống.

Sự sống đích thực không có mặt của tà niệm. Niệm có, niệm không, niệm thành, niệm bại, niệm đẹp, niệm xấu, niệm tức, niệm giận là tà niệm. Thực tại không được niệm nhưng lại niệm quá khứ, niệm tương lai hay niệm ái dục trong hiện tại là tà niệm. Chánh niệm cho đến khi không còn niệm nữa, niệm như không niệm, không niệm như niệm, ấy đích thực là vô niệm, ngay cả thiện lẫn không thiện đều không cần niệm. Tự tánh vốn tịnh, nên dù niệm thiện hay ác cũng trở thành vọng niệm. Thấy rõ tự tánh của vạn vật đồng nghĩa với kiến tánh, giáp mặt với sự thật. Sự thật là vô thường, vô ngã, vô tướng và Niết Bàn. Người nhìn sự vật bằng con mắt vô thường, sự biến hoại không làm người thối lui. Nhìn sự vật bằng con mắt vô ngã, sự khác biệt hay đồng dạng không làm người sợ hãi. Nhìn sự vật bằng con mắt vô tướng, người chấp nhận một trong tất cả hay tất cả trong một. Nhìn sự vật bằng con mắt Niết Bàn, người không khởi tâm gì nữa giữa bão táp và bình yên. Thực tập tám con đường chân chánh dễ dàng dẫn tới an lạc, nhưng an lạc hay không an lạc cũng vậy thôi, như tịnh nhưng không chấp tịnh, ấy chính là tịnh vậy. Kẹt vào không tịnh là chấp và kẹt vào tịnh cũng là chấp, không kẹt vào gì cả, mọi thứ trở thành vốn dĩ của nó. Tâm biến chuyển không ngừng, như huyễn, nên chánh niệm về tâm có khác nào chánh niệm về cái đang thay đổi. Biết tâm thay đổi triền miên, vậy đừng có chấp tâm. Tâm người đang giận, giận rồi sẽ hết giận, vậy chấp tâm giận đó làm gì. Tâm người đang bình yên, bình yên rồi cũng dậy sóng, vậy chấp tâm bình yên làm gì. Nói trở lại vô niệm, vô niệm không có nghĩa là không có niệm hay không có chánh niệm mà vô niệm vì tâm đã tĩnh lặng nên còn gì đâu nữa mà niệm. Niệm thiện được cho là chánh niệm và niệm bất thiện được cho là tà niệm nhưng thực tập đến lúc nào đó niệm bất thiện phải buông nhưng niệm thiện cũng buông luôn, đấy đích thực là vô niệm. Vô niệm biểu hiện ở người vô tâm. Vô tâm không phải người có tâm bất nhẫn, hời hợt hay ác độc trong hành vi mà vô tâm là vô tất cả các tâm, bên trong chẳng hề lay động, bên ngoài như hư không, chẳng tới, chẳng lui, chẳng được, chẳng mất. Có thể nói vô tâm là tâm Bát Nhã. Ngay cả vô tâm cũng chẳng là vô tâm, đã không còn chấp thì cái gì gọi là vô tâm. Trong thiền, chánh niệm là cốt lõi và thực tập chánh niệm đến khi không còn niệm nhưng thực sự đang niệm. Mọi thứ đã cùng tự tánh thì còn cái gì nữa để mà niệm. (17)

Người thường hay thất niệm do tính tham lam, sân hận và si mê. Thất niệm khi ăn, người không biết mình đang ăn, để suy nghĩ giận hờn, trách móc vào bữa ăn nên lúc ăn, người ăn giận hờn, ăn trách móc. Thất niệm khi đi, người không biết mình đang đi, để hớt hải, vội vàng vào chuyến đi nên lúc đi là tâm hớt hải, tâm vội vàng đang đi. Thất niệm khi nói chuyện nên người không biết mình đang nói, để những lời chia rẽ, buộc tội, chỉ trích phát ra vào tiến trình nói nên lúc nói, lời nói trở thành rắn độc, người đang nhả nọc độc của rắn. Ý thức về thức ăn và hành động khi ăn, người làm cho việc ăn có chánh niệm. Ý thức về bước chân và con đường, người làm cho chuyến đi có chánh niệm. Ý thức về lời nói và đối tượng nghe, người làm cho cuộc trò chuyện trở nên có chánh niệm. Thất niệm dễ dẫn đến tà niệm và tà niệm là hậu quả của vọng động mà nguyên nhân là thất niệm gây ra. Gió nổi lên, sóng biển trào dâng như tâm vọng động làm khổ đau chất chồng. Giữ chân tâm thì sẽ hết vọng tâm, muốn thế phải giữ chân niệm để trừ vọng niệm. Dừng một bước, tiến hằng hà sa số kiếp.

Trong đêm tối cơn mê vừa đến
Quờ quạng tâm đâu bến đâu bờ
Nhìn thực tại đẹp như bài thơ
Theo hơi thở tìm về chánh niệm.

Mắt lim dim đi như ma đuổi
Bao chìm nổi lủi thủi thân tâm
Trong chân niệm từ bi nảy mầm
Thôi vọng động tìm về tự tánh

anlac999

Tổng số bài gửi : 18
Location : VIET NAM
Registration date : 11/11/2010

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết