BỐN PHÁP ẤN

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

BỐN PHÁP ẤN

Bài gửi  anlac999 on Tue Apr 26, 2011 8:51 am

Đạt Lai Lạt Ma 14
Tất cả các tông phái Phật giáo đều công nhận bốn dấu ấn của Phật pháp:
1.- Vạn pháp đều vô thường.
2.- Những gì bất tịnh đều khổ.
3.- Mọi hiện tượng đều không có tự tánh (vô ngã).
4.- Niết bàn là sự tịch tĩnh.
Tất cả các hiện tượng ngay từ khi mới khởi sanh, đều có bản chất thay đổi vô thường không lúc nào yên. Ðó là do nhân quả không vì lý do nào khác.
Mọi sự do duyên khởi đều vô thường, thay đổi, không tồn tại vĩnh viễn mà liên tục tàn hoại. Tính cách vô thường này đã được các chứng nghiệm khoa học xác nhận. Những hiện tượng tập hợp và vô thường, nói chung đều do nhân duyên tạo ra. Chúng ta đặc biệt quan tâm tới bản chất của thân và tâm, những phần tử tạo nên con người chúng ta. Ðó là những nghiệp quả của các cảm thọ bất an và hành nghiệp ô nhiễm, bất tịnh. Vậy nên người ta nói thân tâm là những thứ lậu hoặc (bất tịnh). Những cảm thọ phiền não bị chỉ huy bởi vô minh và cái thấy sai lầm về tự tánh. Ðối tượng của si mê và bất an là khổ, khi thoát được những bất an đó thì được hòa bình. Vậy nên có câu: những gì bất tịnh đều khổ. Câu hỏi là chúng ta có bị khổ não vô tận hay không? Pháp ấn thứ ba nói rõ là không có cái khổ vĩnh cửu vì vạn pháp đều trống rỗng, không có tự tánh. Ðó là thực tánh của vạn pháp, tuy bề ngoài chúng hiện ra những thứ có tự tánh vậy. Khái niệm vạn pháp có tự tánh là một khái niệm sai lầm, không có nền tảng. Chúng ta có thiên kiến sai lầm này vì lâu nay có thói quen suy tưởng như thế, Nếu nay chúng ta cố gắng để hiểu ý nghĩa của tánh "Không" và bản chất của vô ngã, ta có thể phá được tà kiến và có cái thấy chân thật về bản chất của các pháp. Nguyên nhân của những tà kiến đó - những cảm thọ bất an - là thứ có thể bị loại trừ. Ta cũng có thể bỏ được mê lầm và tri kiến sai lạc về tự tánh các pháp. Khi chúng ta loại trừ được những nguyên nhân lậu hoặc này, ta sẽ đạt được sự an vui. Vậy nên Niết bàn là hòa bình thật sự, thứ hòa bình không lọc lừa, giả dối.
Nền tảng của tất cả giáo pháp và các phép tu Phật giáo là nguyên lý Duyên khởi. Tại sao? Trước hết sự tu tập có được cũng nhờ nhiều nhân duyên. Tu tập để thấy được thực tại, hiểu được sự hiện hữu trống rỗng của các pháp. Mọi sự đều nương vào nhau mà có mặt, không có cái gì có tự tánh hay hiện hữu hoàn toàn độc lập. Hiểu thuyết duyên khởi rồi, ta sẽ có cái thấy mới mẻ về tánh Không, để có thể phát triển và quảng bá triết thuyết này. Thứ hai, biết mọi sự đều tùy thuộc vào các pháp, ta sẽ hiểu được rằng niềm vui nỗi khổ của ta đều là kết quả của các hành động do chính mình làm. Tương tự như thế, đa số các hành nghiệp của ta cũng có ảnh hưởng tốt hay xấu vào người khác. Nếu ta không để tâm tới họ, ta sẽ thua thiệt. Ngược lại. ta cũng được lợi lạc. Ðó là những lời giảng căn cứ vào thuyết duyên khởi, các lối sống Phật giáo cũng dựa vào thuyết này. Người Phật tử hành sử bất bạo động không làm hại ai. Quan niệm vô ngã và các phép tu tập đều có nền tảng của thuyết Duyên khởi.
"Không" là một cách diễn giải khác của lý Duyên khởi. Theo lý luận của thuyết này, bạn có thể hiểu được rằng, các pháp đều không có hoặc thiếu tự tánh độc lập. Do bối cảnh các hiện tượng đều nương nhau mà có mặt nên mới có liên hệ tất yếu giữa nhân với quả. Và do đó, chúng ta mới tham gia vào việc hành trì các tính thiện như từ bi, thương yêu, bố thí, nhẫn nhục, trì giới và tinh tấn, thiền định.
Những tâm sở như tham, sân là do khái niệm sai lầm về sự hiện hữu riêng biệt của sự vật. Khi ta nuôi dưỡng cái tâm chỉ chú ý vào vô ngã, nó sẽ đối đầu được với vọng tưởng sai lầm về thực tại, do đó tham đắm hay sân hận sẽ tự động yếu đi. Những tâm thiện như từ bi, thương yêu có thể phát triển, không cần sự yểm trợ của vô minh và cái thấy sai lạc về thực tại. Khi ta thực tập về Không phối hợp với các phương tiện thiện xão của tâm tỉnh thức, thì hai thứ này phối hợp với nhau và làm cho khả năng tâm thức ta được gia tăng. Dần dà, tâm hiểu biết về tánh Không của một đối tượng, sẽ thoát được tính phân biệt và các khái niệm, để trực tiếp thấy được tánh Không. Khi ta đã quen tu tập theo lối này, ta sẽ ngừng được các mê vọng, lầm lỗi để vào cõi thanh tịnh. Trạng thái tĩnh lặng chấm dứt được hết các vọng tưởng, đạt tới chân tướng Phật tánh.
Ðể vượt thoát được tâm bất an, ta cần phát triển cái thấy về Không. Khi nào bạn còn tưởng thân tâm của mình là những thứ có tự tánh, bạn còn khái niệm sai lầm về ngã. Chấp ngã một cách sai lạc, khiến bạn tích lũy thêm nghiệp xấu và những nghiệp dĩ này đưa tới kiếp sau. Muốn đạt tới Niết bàn, thoát khỏi luân hồi, bạn cần trau dồi chánh kiến về Không. Những người tu cho chính mình cũng cần phải đạt tới cái thấy về Không. Muốn như vậy, bạn phải nuôi dưỡng tâm mình sao cho luôn được an tịnh. Trong nhiều loại Trí, bạn nên đặc biệt chăm sóc cái trí đối trị được những cản trở của tánh giác. Thực tập ngũ giới là những ảnh hưởng đầu tiên lên Trí đó. Những phương tiện tu luyện đều được dạy để tiến tới quả vị Phật. Tất cả giáo pháp của Phật đều căn cứ vào thuyết Duyên khởi, và mục tiêu của nó là thoát khổ.
Chỉ thấy tánh Không chưa đủ, bạn cần phải tập thật sự làm quen với nó. Bạn nghĩ về ý nghĩa của Không và quán chiếu sự vật trong cái thấy đó. Chẳng hạn quan sát một đám đông, chắc ai cũng mong có hạnh phúc, tránh được khổ đau. Nhưng gương mặt họ diễn ra vô số những diện mạo khác nhau, tùy nhân duyên của mỗi người. Không có sự vật nào có tự tánh, dù mọi thứ đều hiện ra như có tự tánh vậy. Vì thế, giữa thực chất và hình tướng của mọi vật có sự khác biệt.
Khi bạn hiểu như vậy, bạn sẽ thấy mọi thứ chỉ như giấc mộng hay ảo ảnh. Bạn sẽ biết quý cái "Không có bản chất" đó của mọi pháp và bạn có thể giảm thiểu được tham đắm và sân hận. Vì vạn pháp đều không, nên không có gì mất hay còn, được hay thua. Ðạt Lai Ðạt Ma thứ 7 khi giảng về bản chất thực tại đã nói rằng các thứ: "Sắc, thanh, hương... biểu hiện ra vì có sáu giác quan (lục căn). Dù bề ngoài, ta thấy bao nhiêu cảnh sắc đẹp đẽ phong phú, nhưng thực chất của nó không giống bên ngoài. Ðối với tâm bạn, mọi thứ đều hình như có tự tánh, đó là vì tâm bạn bị ngăn che, si mê. Chúng ta cần phải hiểu như vậy, và do đó biết rằng những gì hiện ra trong tâm ta đều do cái Si đầy quyền lực in ấn lên tâm ta. Khi có một ảnh tượng nào hiện ra trong tâm, mà ta biết thực ra nó không hiện hữu như hình tướng ta thấy, thì ta sẽ không bị thất vọng".
Khi ta đối diện với cảm thọ vui hay buồn mà nhìn thấy được thực chất của nó, thì có cái gì để ta sung sướng hay thất vọng đâu? Ta vướng mắc với ai và tại sao ta lại vướng mắc? Ta thường cho là người này ở trên, kẻ kia ở dưới, bạn thì thân tình, kẻ thù thì dễ ghét... Nhưng chính ta, ta nên coi tất cả họ đều là giấc mộng, là ảo giác, và ta nên có thái độ bình đẳng với mọi người. Như vậy, không phải là ta không biết phân biệt tốt xấu hay những điều đó không hiện hữu. Dù thông thường ham muốn được coi là xấu, nhưng mong đạt tới Niết bàn cũng là một ham muốn vậy. Theo ước lệ, Niết bàn là thứ nên tiến tới trong khi cõi luân hồi là thứ nên bỏ đi. Vậy nên ta cần quán về Không. Và ta phải hiểu là không nên nhìn Niết bàn hay Ta bà là những gì hiện hữu thật sự và có tự tánh độc lập. Chúng ta có bạn và kẻ thù, những người tạo phúc lợi cho ta được gọi là bạn, những người làm hại ta gọi là kẻ thù. Gọi là kẻ thù hay bạn không có gì hại, điều có hại là ta bị vướng mắc vào người mà ta gọi là bạn - họ thế nào ta cũng vẫn thương. Ta cũng sẽ lầm lẫn nếu ta luôn luôn giận ghét kẻ thù, coi họ là người hoàn toàn xấu ác. Thái độ đó là sai lầm. Hiểu được mọi chuyện đều hiển hiện ra như vậy là do nhiều nhân duyên kết hợp, ta sẽ coi mọi thứ đều huyền ảo như giấc mộng.
Chúng ta mong được hạnh phúc và coi mình là một thực thể có tự tánh riêng biệt. Quan niệm sai lầm này làm cho ngã chấp ta nặng thêm. Những thái độ chấp ngã này tiềm ẩn tự nhiên và thoải mái trong tâm chúng ta, chúng ta luôn luôn nương tựa và cúi đầu trước những tự ái đó như trước một vị thầy khả kính, và chúng ta vui lòng để nó ngự trị trong tâm ta. Hãy nhìn lại coi dấu vết của nó trong những tình huống chúng ta đã sống, đã trải qua. Chư Phật coi những thái độ chấp ngã đó là kẻ thù khó chịu nhất. Các ngài chiến đấu thắng được nó nên đạt tới giải thoát.
Một số quý thầy Kalampa nói về các thái độ chấp ngã như sau: "Dù cho toàn thể con người tôi bị ép dưới sức mạnh của khổ đau, tôi sẽ cố gắng dùng răng cắn vào các chấp ngã và xé chúng ra thành từng mảnh". Các ngài cũng thách đố chúng: "Ta nhìn thấy ngươi rồi, ngã chấp ơi! Mi mang tới cho ta bao nhiêu vấn đề, ta phải đánh bại mi, bẻ cổ mi mới được!"
Thái độ chấp ngã này cùng với quan niệm sai lầm về tự tánh các pháp luôn luôn mang đau khổ tới chúng ta. Vì vậy cho nên, dù ta luôn mong cầu có hạnh phúc, ta vẫn gặp toàn vấn đề khó khăn và đau khổ. Từ đầu, chúng ta đã sống như vậy. Có thể chúng ta đã sanh ra làm vua trời trong một kiếp nào đó, nhưng trong trường hợp ấy, cái ngã chấp cũng vẫn nằm sâu trong tâm thức ta. Vậy nên ta không có hạnh phúc lâu bền. Trong cõi luân hồi, ta không có niềm vui vĩnh hằng vì chấp ngã và khái niệm sai lầm về tự tánh.
Vì chấp ngã, chúng ta bị quay liên tục trong vòng luân hồi. Dù có khi ta được hưởng sự an lạc tạm thời, nhưng nếu vô ý đi lầm đường, bị đọa vào những cõi thấp kém hơn, thì ta lại gặp toàn đau khổ. Những người tự coi là Phật tử thuần thành thì thọ các giới luật, thường cho mình là người hành trì tinh tấn. Nhưng nếu sự thật bạn vẫn bị chấp vào ngã và hiểu sai về tự tánh các pháp, bạn sẽ lầm tưởng mình là con người đặc biệt. Bạn hành sử giống như một người chuyên cứu giúp người và đứng đó để làm chỗ nương tựa cho kẻ khác. Tự mãn như thế, bạn sẽ bị tái sanh vào chỗ không tốt sau này.


anlac999

Tổng số bài gửi : 18
Location : VIET NAM
Registration date : 11/11/2010

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết