ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI ( tái bản p4)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI ( tái bản p4)

Bài gửi  nhuphong on Tue Sep 27, 2016 4:19 pm

Kết luận
Thành tựu khoa học hiện đại về bảy vầng hào quang bao quanh cơ thể con người đã giúp ta nhận biết quá trình luân hồi của tâm con người khi còn sống và cảnh giới lục đạo luân hồi sau khi chết bằng những hình ảnh cụ thể, đã hiện tướng ra trên giấy trắng mực màu. Một lần nữa làm sáng tỏ đạo lý nhân quả luân hồi của Phật là chân thật, khách quan và khoa học vậy.
c. Nhận thức về sự khác nhau giữa chúng sinh hữu tình là con người và chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật.
Như ở phần III của bài đã viết: Chúng sinh vô tình thuộc về năm đại là đất đại, nước đại, gió đại, lửa đại và không đại. Do ba bản thể tuyệt đối, năng lượng Nơtron, proton, electron hòa hợp duyên khởi mà tạo nên. Chúng sinh hữu tình phải có thêm hai đại nữa là kiến đại thức đại là năng lượng về cái thấy và cái biết của chúng sinh, có nguồn gốc từ năng lượng bản thể giác tính, là năng lượng về tính thấy, tính biết của Phật, do mê nên mức năng lượng giảm mà sinh ra. Nó chính là năng lượng sinh học mà khoa học hiện đại đã khám phá ra được.
Thế nên bảy đại là bảy chất liệu có nguồn gốc từ bốn bản thể tuyệt đối duyên khởi tạo thành chúng sinh vô tình và hữu tình khắp pháp giới hay vũ trụ vậy.
Chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật do sáu đại: đất đại, nước đại, gió đại, lửa đại, không đại và kiến đại hòa hợp duyên khởi mà sinh ra. Như động vật bậc cao là loài thú cũng chỉ sống được bằng năm giác quan và ba bản năng sinh tồn mà thôi. Thí dụ: Trước mắt con trâu là cái cây to, nó chỉ nhìn thấy cái cây chứ không biết là cây gì, mít hay nhãn, ai trồng, trồng từ bao giờ, quả có ngon hay không ngon… Hay gần đấy có người gảy đàn, nó chỉ nghe thấy âm thanh phát ra từ cây đàn chứ không biết là đàn gì ghi ta hay đàn bầu, ai gảy bài nhạc nào, có hay hay không hay. Là bởi vì tâm của nó chỉ sinh ra từ kiến đại (cái thấy) và một phần thức đại (cái biết). Lại nữa, một bầy chó trong sân nếu vứt cho một khúc xương chúng liền xô tới tranh nhau, con nào khỏe giành được chạy đi ăn một mình. Nó không biết nhường nhịn chia nhau cùng ăn, vì nó chỉ sống bằng bản năng sinh tồn, nó không có ý thức vì không có đầy đủ thức đại (cái biết) vậy.
Các loài động vật bậc thấp thì không đủ năm giác quan, con ốc, con hến chỉ có một giác quan là xúc giác. Còn thực vật thì không có giác quan vì nó không có tế bào thần kinh, nhưng nó vẫn có cảm giác thấy, như cây nào cũng đều hướng về ánh sáng mặt trời, cây xấu hổ ban ngày lá nó xòe ra, tối đến hoặc đụng tay vào nó liền cụp lại. Khoa học ngày nay đã chụp ảnh được hào quang bao quanh lá cây.
Chúng sinh hữu tình là con người thì đầy đủ bảy đại: đất, nước, gió, lửa, không, kiến và thức đại, hòa hợp duyên khởi mà sinh ra. Có như vậy mới xác định được con người là vũ trụ thu nhỏ hay tiểu vũ trụ. Không những thế, con người còn là Phật vị lai, bởi vì tâm con người mới tiềm ẩn đầy
đủ tính Phật nên mới tu thành Phật được và mới nói Phật tại tâm được.
Chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật chỉ có kiến đại là cái thấy và một phần thức đại là cái biết (động vật bậc cao). Cái thấy cái biết cũng từ tính thấy tính biết mà có. Tính thấy tính biết là tính Phật, nên chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật đều có tính Phật.
Do không có đầy đủ thức đại, nên không có thức A lại da là thức thứ tám hay thần thức như con người. Vì thế chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật không thể tu hành thành Phật như con người được. Cho nên không phải Phật Vị Lai là như vậy.
Lại nữa, nếu đem so sánh đối chiếu tính Phật của chúng sinh là thực vật và động vật với tự tính của tính Phật thể hiện bằng tám chữ: Linh, minh đổng, triệt, trạm, tịch, thường, hằng (đã phân tích ở phần II trang 15-16 của bài) thì chỉ hai chữ cuối là thường hằng, chúng sinh là thực vật và động vật cũng không có. Vì sao? Vì chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật bị chi phối bởi quy luật: Sinh, trụ, dị, diệt.
Một giống hay một loài nào đó là thực vật hay động vật mà xuất hiện thị gọi là sinh. Tồn tại sinh sôi phát triển thì gọi là trụ. Do phải thích nghi với môi trường sống để tồn tại (trụ) nhưng môi trường sống thì luôn luôn biến đổi, nên giống hay loài thực vật, động vật đó phải biến đổi (biến dị) để thích nghi với môi trường sống nên gọi là dị. Biến đổi (biến dị) mà không thích nghi được thì bị diệt chủng nên gọi là diệt.
Giống hay loài chúng sinh hữu tình là thực vật và động vật đó, không còn tồn tại (trụ) trong thiên nhiên môi trường nữa. Vì thế mà không thường hằng để là Phật Vị Lai được.
Nếu kinh Phật nói, chúng sinh nào cũng là Phật Vị Lai, thì đó chỉ là ý nghĩa khế cơ của kinh Phật thuộc pháp phương tiện. Còn ý nghĩa khế lý của kinh Phật thuộc chân lý tuyệt đối, thì như phân tích ở trên vậy.
Lại nói đến sự khác nhau về sinh sản: Đối với động vật, sinh sản thuộc về bản năng sinh tồn nên đơn giản. Hễ lấy đực cho lợn lái hoặc trâu bò cái chỉ cần một lần là có thai và sinh con. Còn đối với con người, khi tinh trùng và trứng của bố mẹ gặp nhau tạo thành tế bào hợp tử, mà ở thời điểm gặp nhau đó, không có thần thức và thân năng lượng của người đến đầu thai, thì tế bào hợp tử sẽ không tồn tại để rồi sinh sôi phát triển thành bào thai được. Vì sao? Vì không có thân năng lượng cung cấp năng lượng cho tế bào hợp tử đó, nên nó không tồn tại (chết), và bị thải ra ngoài theo đường kinh nguyệt. Đối với tế bào hợp tử mà còn như vậy, huống chi tế bào sinh dưỡng khi tách rời cơ thể, là tách khỏi hai nguồn năng lượng, thần thức và thân năng lượng thì làm sao mà tồn tại, sinh sôi phát triển thành con người, sao y bản chính được.
Từ những điều phân tích ở trên dẫn đến kết luận:
Sẽ không thể nhân bản vô tính thành công đối với con người như đã nhân bản vô tính thành công đối với động vật cừu được.
Sơ đồ nhận biết thân tâm con người


V. Pháp môn niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật.
1. Pháp môn niệm Phật là pháp tha lực về hào quang năng lượng trí tuệ Phật
a) Sơ lược tiểu sử của Phật A Di Đà và xuất xứ của Pháp Môn Niệm Phật
A Di Đà Phật là tiếng Phạn, dịch: vô lượng quang, vô lượng thọ. Ngài là giáo chủ thế giới Cực Lạc về phía tây. Theo kinh Cổ Âm Vương, thì đời quá khứ lâu xa, có nước Diệu Hỷ. Vị quốc vương là Kiều Thi Ca. Bấy giờ có Phật Tự Tại Vương Như Lai ra đời. Kiều Thi Ca xuất gia đầu Phật, hiệu là Pháp Tạng. Lại kinh Vô Lượng Thọ nói: “ Pháp Tạng tỳ khưu ở nơi Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai phát lòng bồ đề, lại phát 48 lời nguyện, mỗi nguyện như thế lại nói: nếu không được như thế, tôi thề không thành Phật”. Những đại nguyện ấy đã thành tựu và ngài Pháp Tạng đã thành Phật, tức là đức A Di Đà ở Thế Giới Cực Lạc hiện nay.
Trong 48 đại nguyện có hai đại nguyện 13, 14 mở ra pháp tha lực, còn đại nguyện 18 là đại nguyện tiếp dẫn chúng sinh về Tây Phương Cực Lạc mở ra Pháp môn Niệm Phật, là xuất xứ của Pháp Môn Niệm Phật là pháp tha lực vậy.
b) Nội dung của đại nguyện 13, 14 (trích kinh Vô Lượng Thọ do cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập) “Khi tôi thành Phật, quang minh vô lượng chiếu khắp mười phương. Vượt hơn quang minh của thảy chư Phật. Vượt hơn ánh sáng mặt trời, mặt trăng ngàn vạn ức lần. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh chiếu chạm thân mình, đều được an lạc, tâm từ hành thiện. Được sinh nước tôi. Nếu không như nguyện, không thành Chính giác”.
Phật là do chúng sinh tu thành. Phải đầy đủ vô lượng quang, vô lượng thọ, vô biên công đức. Mới chứng quả vị Phật. Tuy nhiên nguyện tu hành của Chư Phật có mức độ khác nhau nên nguyện lực cũng khác nhau. Vì muốn độ tận chúng sinh nên đức Phật A Di Đà đã phát đại nguyện 13 và 14 để có nguyện lực lớn, chính là Pháp tha lực. Do có Pháp Tha Lực, Phật A Di Đà mới phát tiếp đại nguyện thứ 18, là đại nguyện tiếp dẫn chúng sinh về Tây Phương Cực Lạc để mở ra Pháp Môn Niệm Phật là Pháp Tha Lực. Nên 3 đại nguyện 13,14 và 18 đã mở ra Pháp Môn Niệm Phật là Pháp Tha Lực vậy. Ba đại nguyện này tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân gọi là Di Đà bản nguyện. Còn khi nói, viết nguyện 18 là Di Đà bản nguyện là nói tắt, viết tắt. Cũng như thế khi nói, viết Pháp Môn Niệm Phật là nói tắt, viết tắt. Còn nói đủ viết đủ phải là Pháp Môn Niệm Phật là Pháp Tha Lực. Hay nói, viết niệm Phật cũng là nói tắt viết tắt. Nói đủ viết đủ phải là Tha Lực Niệm Phật. Có hiểu như thế mới đồng với ý nghĩa của Pháp Môn Niệm Phật là Pháp Tha Lực vậy.
Trong Niệm Phật Tông Yếu, Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy: “Kinh Quán Vô Lượng Thọ chép rằng: “Quang minh soi chiếu khắp 10 phương thế giới, thâu nhiếp không rời chúng sinh niệm Phật”. Quang minh đức Phật A Di Đà chỉ soi chiếu người niệm Phật chẳng soi chiếu người tu các hạnh khác. Bởi thế người cầu sinh sang Cực Lạc phải biết niệm Phật là trọng yếu”. Quang minh chính là tha lực của Phật A Di đà vậy.
Trong Niệm Phật Cảnh, có người hỏi Tổ Thiện Đạo: Nói về pháp môn thì vô lượng Pháp nào là tự lực, pháp nào là tha lực. Tổ đáp: “Như Lai nói 84000 pháp môn, nhưng chỉ có một môn Niệm Phật là tha lực. Các môn tu hành khác đều là tự lực”.
Hỏi tiếp: Tu hành tự lực y theo lời dạy trong kinh Phật bao giờ mới thành tựu? Tu hành theo tha lực bao giờ mới thành tựu?
Tổ đáp: “Tu hành tự lực theo lời dạy trong kinh Phật từ lúc mới phát tâm tu qua một đại A tăng tỳ kiếp mới đến sơ địa bồ tát, ngang với quả vị A la hán. Lại một đại a tăng tỳ kiếp nữa mới đến bát địa bồ tát. Đây là tự lực. Tu hành theo tha lực là pháp môn niệm Phật, mau thì một ngày, chậm thì bảy ngày niệm Phật A Di Đà vãng sinh tịnh độ. Ngang hàng với Bồ Tát bát địa. Tại sao? Vì nương vào sức mạnh bản nguyện của Phật A Di Đà. Trong kinh A Di Đà nói: “Chúng sinh được sinh về cực lạc đều là bậc bất thoái chuyển”. Tức là Bồ Tát bát địa vậy.”
Lại hỏi tiếp: Tha lực và tự lực ý nghĩa thế nào?
Tổ đáp: “Tha lực giống như con kiến bám vào cánh đại bàng. Đại bàng liền đem kiến để lên đỉnh núi Tu Di. Kiến được lên cao thọ hưởng những điều thích thú. Phàm phu niệm Phật cũng như thế, nương vào nguyện lực của Phật mau được trở về Tây Phương thọ hưởng sự vui thích giống như con kiến nương vào sức mạnh đại bàng mà được lên núi, đấy là tha lực.
Các môn tu khác, giống như con kiến dùng tự lực bò lên đỉnh núi, chẳng thể tới được, đấy là tự lực.
Vả lại tự lực giống như kẻ phàm phu què, không thể đi mau. Tha lực giống như Chuyển Luân Vương, bay trên hư không, qua lại khắp tứ thiên hạ, vì nương vào sức mạnh của bánh xe báu. Nương vào nguyện lực của Phật A Di Đà cũng như thế, trong một khoảnh khắc liền được vãng sinh Tây phương vào bậc bất thoái.
Pháp môn niệm Phật nương vào sức mạnh bản nguyện của Phật A Di Đà mà mau chóng thành Phật. Vượt qua các Pháp môn khác gấp trăm nghìn vạn ức lần.”
c) Nội dung của đại nguyện thứ 18
“Nếu chúng sinh nào muốn về nước ta. Một lòng tin ưa xưng danh hiệu ta cho đến 10 niệm. Như không được sinh ta không thành Phật”.

Từ nội dung của đại nguyện 18 rút ra ba điều kiện: Muốn về nước ta là cầu vãng sinh.
-    Một lòng tin mà cầu vãng sinh hay không nghi ngờ gì về chuyện vãng sinh, gọi là tin sâu (điều kiện 1).
-   Một lòng ưa mà cầu vãng sinh hay chỉ một lòng cầu vãng sinh gọi là nguyện thiết (điều kiện 2).
-  Xưng danh hiệu ta hay niệm Phật (điều kiện 3)
Trong 3 điều kiện thì tín đứng hàng đầu và mở ra hai điều kiện sau. Bởi vì có tín mới có nguyện. Có nguyện mới xưng danh hiệu ta hay niệm Phật. Nếu tín mà không nguyện thì gọi là tín xuông. Nếu nguyện mà không xưng danh gọi là nguyện hão. Nên khi nói nguyện thiết là đã có tin sâu (gồm 2 điều kiện).
Ba điều kiện này là cần và đủ. Cần là không thể thiếu một điều kiện nào trong 3 điều kiện. Đủ là không cần thêm điều kiện nào nữa vào 3 điều kiện.
Vì đại nguyện 18 mở ra Pháp môn Niệm Phật nên 3 điều kiện này cũng là 3 điều kiện của Pháp Môn Niệm Phật vậy.
Trong 3 điều kiện thì 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết thuộc về tâm. Vậy tâm tin sâu nguyện thiết là tâm gì? Là tâm chân thật. Vì sao? Vì tâm con người mong cầu đủ thứ. Nhưng chỉ một lòng cầu vãng sinh (tin sâu, nguyện thiết) là chân thật. Vì cầu vãng sinh là cầu giải thoát và cầu thành Phật. Còn lại, kể cả cầu Phật cũng đều là cầu nhân ngã. Cầu là để thỏa mãn lòng tham của mình mà thôi. Tâm chân thật thì khởi niệm chân thật. Niệm chân thật gọi là chính niệm. Nên hai điều kiện tin sâu, nguyện thiết hay tín nguyện còn gọi là chính niệm vậy.
Trong niệm Phật Cảnh, tổ Thiện Đạo cũng khuyên dạy người tu Pháp Môn Niệm Phật như vậy:
“Luôn luôn niệm Phật phải chân thật
Y theo lời Phật chớ hồ nghi
Điều phục tâm viên đừng phóng dật.”

Còn điều kiện thứ 3 xưng danh hiệu ta hay niệm Phật là hành động của miệng lưỡi thuộc về thân. Nên xưng danh hiệu ta hay niệm Phật chỉ là phương tiện do thân miệng thực hiện để phục vụ cho tâm chân thật (tin sâu nguyện thiết) của người tu Pháp Môn Niệm Phật được vãng sinh Tây Phương Cực Lạc mà thôi.
Trong niệm Phật Tông yếu, Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy: “Chỉ một lòng cầu vãng sinh mà niệm Phật. Đó là tha lực niệm Phật”.
Chỉ một lòng cầu vãng sinh là hai điều kiện tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật là điều kiện thứ 3. Vậy niệm Phật mà đủ 3 điều kiện thì gọi là tha lực niệm Phật. Nếu không đủ 3 điều kiện thì niệm Phật đó gọi là tự lực niệm Phật.
Tha lực niệm Phật sẽ nhận được quang minh hay tha lực của Phật chiếu trạm như đại nguyện 14 của Phật A Di Đà đã chỉ rõ. “…đều được an lạc, tâm từ hành thiện…”. Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã làm rõ ý này của đại nguyện 14. “Một câu niệm Phật tiêu trừ 80 ức kiếp trọng tội sinh tử. Lại được 80 ức kiếp công đức vi diệu”.
Xưng danh hiệu Phật hay niệm Phật (điều kiện 3) chỉ là tín hiệu địa chỉ để tha lực hay quang minh của Phật định hướng về người niệm Phật đó. Còn có chiếu chạm hay không là tuỳ thuộc vào tâm người niệm Phật có đủ 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết hay không. Nếu tâm người niệm Phật không có 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật là để cầu nọ, cầu kia hoặc có 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết mà bị tà niệm che mất thì quang minh hay tha lực của Phật cũng không chiếu chạm được. Vì thế, không phải câu niệm Phật nào cũng là tha lực niệm Phật.
Pháp môn niệm Phật là pháp tha lực nên người tu theo pháp môn phải có tâm độ mình và độ người. Khi ta tha lực niệm Phật, nhận được quang minh hay tha lực của Phật chiếu chạm là đã tự độ cho mình, gọi là cảm ứng đạo giao. Lại nhờ nhận được tha lực của Phật chiếu chạm để độ cho người khác gọi là hồi hướng công đức niệm Phật, chính là thần giao cách cảm vậy.
d) Thành tựu khoa học hiện đại về 7 vầng hào quang bao quanh cơ thể con người và kiến thức về bản chất sóng năng lượng sinh học đã làm sáng tỏ pháp môn niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật và việc hồi hướng công đức niệm Phật là chân thật, khách quan và khoa học.
Bản chất sóng năng lượng sinh học.

(trích trang 202-203 sách Hướng dẫn ứng dụng năng lượng sinh học, tác giả Nguyễn Đình Phư)
- Sóng năng lượng sinh học định hướng và mang thông tin. Khi bức xạ đủ mạnh, chủ nhân có thể phát thông tin kèm theo và định hướng cho sự lan truyền sóng. Khoảng cách như thu hẹp lại, đối tượng dù ở đâu cũng lọt vào vùng bức xạ của sóng năng lượng sinh học. Vật cản hoàn toàn biến mất.
-    Sóng năng lượng sinh học tương tác lên các vật chất, đặc biệt mạnh với cơ thể sống. Trường năng lượng sinh học như nhau thì cộng hưởng, khác nhau thì chinh phục.
-   Ít bị tiêu hao.
Năng lượng thần thức chính là năng lượng trí tuệ Phật, do mê nên mức năng lượng giảm đi quá nhiều. Con người là chúng sinh nên năng lượng thần thức cũng chính là năng lượng sinh học vậy.
Làm sáng tỏ đại nguyện 13, 14, 18 hay Pháp Môn Niệm Phật là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật.
Khi ta xưng danh hiệu Phật hay niệm Phật là ta đã phát tín hiệu địa chỉ khiến cho năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật định hướng về phía ta. Nếu năng lượng thông tin của ta phát ra từ tâm chân thật (thần thức) là một lòng cầu vãng sinh hay tín nguyện thì đồng với năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật, nên vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả cho giao tiếp. Chính là chiếu chạm vào vầng hào quang nhân quả. Vì vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả là nơi giao tiếp năng lượng thông tin của bản thể với năng lượng thông tin của môi trường. Khi vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả cho năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật giao tiếp với năng lượng thông tin của ta phát từ năng lượng thần thức. Năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật cực mạnh nên chinh phục năng lượng thông tin thần thức của ta khiến cho năng lượng thông tin thần thức bức xạ năng lượng mạnh thêm qua năm luân xa, làm cho các vầng hào quang dãn ra xa thân. Năng lượng nghiệp nhân ý nghiệp thiện của vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm tăng. Vầng hào quang nhân quả nối tiếp với vầng hào quang hình thái bổ sung hành ấm cũng dãn xa thân khiến cho nghiệp nhân thiện của thân khẩu nghiệp thiện tăng thêm, vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả mỏng thêm. Vì thế khi ta tha lực niệm Phật sẽ được Phật A Di Đà hỗ trợ nghiệp nhân thiện thân khẩu ý cho ta là như vậy.
Làm sáng tỏ về hồi hướng công đức niệm Phật là chân thật.
Khi ta tha lực niệm Phật. Năng lượng thông tin Bản nguyện của Phật cực mạnh đã chinh phục năng lượng thông tin thần thức của ta, làm cho trường hào quang năng lượng của ta mạnh thêm. Nhờ có trường hào quang mạnh thêm này, ta định hướng về những chúng sinh để chinh phục trường hào quang năng lượng của họ, làm cho trường hào quang năng lượng của họ mạnh thêm, kích thước của các vầng hào quang dãn ra xa thân, vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả mỏng thêm. Chính là ta đã hồi hướng công đức niệm Phật cho họ.
Nếu chúng sinh đó còn đang sống. Nghiệp nhân thân khẩu ý của họ tăng, khiến cho nghiệp chướng tiêu trừ làm bớt đi những chướng ngại trong cuộc sống đời thường. Thiện căn lại thêm lớn giúp họ gặp nhiều may mắn để được hưởng thêm phúc báo...
Nếu chúng sinh đó đang ở cõi âm.
Do vỏ bọc của vầng hào quang nhân quả mỏng thêm mà thần thông của họ mạnh thêm. Họ sẽ bớt khổ hơn, lại có thể phù hộ được cho con cháu. Và sớm gặp duyên cha mẹ để được sinh lại làm người.
Nếu chúng sinh đó đang phải đọa vào ác đạo, sẽ giúp cho họ trả ác nghiệp nhanh hơn. Các vầng hào quang đã mất, hiển lộ dần. Trường hào quang của họ mạnh dần lên và rồi họ sẽ chuyển dần từ cảnh giới thấp địa ngục lên các cảnh giới cao hơn là ngã quỷ, súc sinh, để rồi chuyển lên thành người âm và đợi duyên cha mẹ để được sinh lại làm người. Có câu “ Một người tu bảy họ được nhờ”. Chắc là nói về người tu Pháp Môn Niệm Phật vậy.
Những điều trình bày ở trên cho thấy tác dụng của việc hồi hướng công đức niệm Phật là chân thật khách quan và khoa học.
e) Điều kiện để người tu Pháp môn niệm Phật được Phật A Di Đà tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc là chính niệm tín và nguyện.

Phàm phu tội chướng thời kỳ Mạt Pháp hiện nay nghiệp chướng quá sâu dày, thiện căn quá yếu kém, căn cơ quá hạ liệt, thường bị nội ma tham, sân, si quấy phá làm cho tâm đầy tán loạn, không giữ được 2 điều kiện tin sâu, nguyện thiết khi ngồi yên tĩnh niệm Phật và cản trở khiến cho người tu không luôn luôn niệm Phật được. Lại còn bị ngoại ma ra sức phá hoại, lòng tin vào Di Đà Bản Nguyện hay Pháp môn Niệm Phật như gửi thông tin qua người khác, hoặc nhập vào người khác để nói hoặc đưa tài liệu làm cho người tu bị lạc đường. Nhưng không phải vì thế mà phàm phu tội chướng khó được vãng sinh. Trong niệm Phật Tông Yếu, Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy: “ Đã sinh làm người trong cõi tán địa này thì tâm đều tán loạn cả. Nếu phải bỏ cái tâm tán loạn mới được vãng sinh thì thật là vô lý. Tán tâm niệm Phật mà được vãng sinh là chỗ đáng quý của Di Đà Bản Nguyện vậy”.
Tổ Tri Húc cũng có lời dạy: “Niệm Phật còn nhiều tán loạn, nếu được vãng sinh thì về hạ hạ phẩm. Nếu ít tán loạn thì về trung hạ phẩm. Nếu không còn tán loạn thì về thượng hạ phẩm. Nếu chứng tam muội sự thì về ba phẩm trung. Chứng niệm Phật tam muội lý thì về ba phẩm thượng”. Tổ còn dạy: “ Được sinh cùng chăng toàn do tín nguyện có hay không. Về phẩm thấp cao là do niệm Phật sâu hay cạn”. Lời dạy này của tổ Tri Húc đã được Tổ Ấn Quang khẳng định “Đây là luận án thép, nghìn Phật ra đời cũng không thay đổi”.
Vậy người tu pháp môn niệm Phật phải gắng sức nhiếp tâm niệm Phật để có được nhiều câu niệm Phật là tha lực niệm Phật, mới chuyển được tâm đầy tán loạn xuống còn nhiều tán loạn. Có thế mới có thể giữ được chính niệm là tín và nguyện để được Chư Phật Mười Phương hộ niệm cho đến trước khi lâm chung là 2 điều kiện cần phải có để đến khi lâm chung được Phật A Di Đà hiện ra tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc.
f) Người tu pháp môn niệm Phật giữ được chính niệm (tín, nguyện) cho đến trước khi lâm chung. Đến khi lâm chung được Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc.
Lâm chung là lâm vào cái chết, thế gian gọi là hấp hối (lúc sắp chết). Ở giai đoạn này, thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa) đang bị phân ly. Thân ngũ uẩn đang dẫn đến liệt hoại, khiến cho người sắp chết tâm thần hoảng loạn, các niệm như tham sống sợ chết, luyến tiếc tình cảm, tham tiếc của cải khởi lên mạnh mẽ, gọi là tâm điên đảo. Còn xác thân thì vô cùng đau đớn.
Từ đặc điểm trên của khi lâm chung, liên hệ với Kinh A Di Đà “Chỉ có những người một lòng chuyên niệm danh hiệu của Phật A Di Đà… Người ấy khi nào lâm chung Phật cùng Thánh chúng hiện ra trước mặt, tâm không điên đảo, người ấy được sinh sang nước Cực Lạc của Phật A Di Đà”. Như vậy thì chỉ có những người tu Pháp môn niệm Phật giữ được chính niệm (tin, nguyện) cho đến trước khi lâm chung. Vì chính niệm (tin, nguyện) đồng với Đại nguyện tiếp dẫn của Phật thì khi lâm chung Phật cùng Thánh chúng mới hiện ra trước mặt để tiếp dẫn. Phật hiện tâm người niệm Phật mới không bị điên đảo vẫn giữ được chính niệm (tin nguyện). Trong niệm Phật Tông Yếu Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân cũng dạy như vậy: “Người niệm Phật có lòng cầu vãng sinh và không nghi ngờ Di Đà bản nguyện, khi lâm chung không bị điên đảo. Sở dĩ được vậy là nhờ chư Phật lai nghinh. Phật lai nghinh để người tu niệm Phật cầu vãng sinh lúc lâm chung được chính niệm, không phải lúc lâm chung cần phải chính niệm thì Phật mới lai nghinh. Người không biết nghĩa này cho rằng lúc lâm chung cần phải chính niệm niệm Phật Phật mới lai nghinh. Kiến giải như vậy là không tin vào Phật nguyện và không hiểu kinh văn nữa”.
Nhưng chính niệm lúc lâm chung mới chỉ là tâm chân thật của phàm phu tội chướng, Phật chưa tiếp dẫn về Tịnh độ được. Khi tâm chân thật của phàm phu trở thành tâm thanh tịnh, Phật mới phóng quang tiếp dẫn về Tịnh độ của Phật. Lời khuyên người niệm Phật của Tổ Thiện Đạo trong Niệm Phật Cảnh làm rõ ý này.
Niệm Phật trước trừ tâm tham ái
Lâm chung tâm định thấy Di Đà
Tợ trăng sáng tỏ soi đầm biếc.

Có trừ được tâm tham ái mới giữ được chính niệm trước khi lâm chung. Còn khi lâm chung tâm định mới thấy Di Đà. Tâm có định mới sinh trí tuệ. Trí tuệ tâm Phật chính là tâm thanh tịnh. Nhờ có con mắt trí tuệ của tâm thanh tịnh mới thấy Di Đà, bởi thân của Phật là thân năng lượng, giống như hình hiện trên ti vi. Mắt của người không thấy được.
Nhưng tâm định vào thời điểm nào của khi lâm chung? Tâm định vào sát na lâm chung, sát na lâm chung là một loáng thời gian trước khi chết, trong một loáng thời gian này, thân ngũ uẩn vừa liệt hoại xong (hơi dứt mạng hết) đột ngột không ngăn che trí tuệ tâm Phật, ví như đèn hết dầu phụt sáng trước khi tắt. Vậy sát na lâm chung tâm người niệm Phật mới được thanh tịnh và Phật A Di Đà tiếp dẫn họ vào thời điểm này. Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân cũng xác định như vậy: “Sát na lâm chung dễ như cắt sợi tơ, người ngoài không biết được, chỉ có Phật và người niệm Phật biết được mà thôi” (Trích Niệm Phật Tông Yếu).
Còn những người tu pháp môn niệm phật không giữ được chính niệm (tín nguyện). Cho tới trước khi lâm chung, đến khi lâm chung Phật cùng Thánh chúng không hiện ra tiếp dẫn được. Khi mệnh chung hay sau sát na lâm chung, tâm liền hiện ra ấm cảnh (cuốn phim cuộc đời). Ấm cảnh là cảnh giới của lục đạo luân hồi, do nghiệp nhân thiện ác mà con người gây ra khi còn sống và nghiệp nhân quá khứ còn lại tạo nên. Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: “Này A Nan, thế gian sống chết tiếp nối. Sống thuận tập quán, chết theo nghiệp đổi dời. Mạng chung khi chưa hết hơi nóng, thiện ác một đời cùng hiện ra. Chết nghịch sống thuận, hai tập khí giao xen.” Đến khi thần thức và thân năng lượng dời khỏi xác thân đã chết liền bị ấm cảnh hay cảnh giới nào mạnh lôi kéo vào cảnh giới tương ứng của lục đạo luân hồi. Vì thế tô Thiện Đạo mới có lời khuyên: “Việc luân hồi sinh tử rất lớn lao, phải tự mình gắng sức mới được. Nếu một niệm sai lầm để luống qua thì nhiều kiếp chịu khổ. Có ai thay thế cho mình! Nên suy nghĩ kỹ, nên suy nghĩ kỹ”.
Niệm sai lầm chính là tham sống sợ chết, luyến tiếc tình cảm, tham tiếc của cải mà che mất chính niệm (tín nguyện) thì Phật và thánh chúng không hiện ra tiếp dẫn được. Vì thế Tổ khuyên phải gắng sức tu hành để giữ được chính niệm (tín nguyện) trước lúc lâm chung vậy.
g) Sơ đô Nhân Duyên Qua của Phap môn Niêm Phât.

2. Trong thời kỳ Mạt Pháp chỉ có pháp môn niệm Phật là pháp môn duy nhất, Phật độ chúng sinh phàm phu giải thoát khỏi biển khổ luân hồi sinh tử và tu tiếp thành Phật.
Xin trích dẫn kinh Phật và lời Tổ để làm rõ y này:
a) Kinh Pháp Hoa có đoạn: Trong cõi Phật mười phương Chỉ có pháp Nhất thừa Không Hai cũng không Ba Trừ Phật phương tiện nói”
Pháp Nhất thừa
là pháp tu thẳng thành Phật. Pháp Môn Niệm Phật có nhân tu là tha lực niệm Phật, quả tu là vãng sinh Cực Lạc. Trong kinh Niệm Phật Ba la mật Phật Thích Ca xác quyết “Vãng sinh là thành Phật”. Thế nên Pháp Môn Niệm Phật là pháp môn tu thẳng thành Phật, cũng chính là pháp Nhất thừa vậy.
Không Hai là không có Nhị thừa gồm Thanh Văn thừa và Duyên Giác thừa.
Không Ba là không có Tam thừa là Bồ Tát thừa.
Vì chúng sinh chấp tướng, nên Phật phải nói ra các pháp Nhị thừa, Tam thừa làm phương tiện cho chúng sinh căn cơ bậc thượng tu hành trong thời kỳ chỉnh pháp và Tượng pháp đó thôi.
b) Kinh Đại tập Phật dạy: “Thời kỳ Mạt pháp muôn ức người tu hành không có lấy một người giải thoát. Phải nương vào Pháp Môn Niệm Phật mà ra khỏi luân hồi”. Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân sơ tổ Tịnh tông Nhật Bản là hóa thân của Bồ tát Đại Thế Chí đã làm rõ đoạn kinh này bằng lời dạy sau: “Thánh đạo môn (gồm Luật tông, Giáo tông, Thiền tông, Mật tông), tuy thâm diệu, nhưng thời điểm và căn cơ chẳng tương ứng. Tịnh độ môn hình như nông cạn, nhưng thời điểm và căn cơ đều tương ứng. Thời Mạt pháp một vạn năm, các kinh điển khác đều bị tiêu diệt, chỉ còn Pháp Môn Niệm Phật để cứu độ chúng sinh”.
c) Kinh Tịnh Độ Quyết Nghi Phật chỉ rõ:
“Sau khi Phật diệt độ năm trăm năm, trong thời kỳ chính pháp, Trì giới được thành tựu. Một nghìn năm thời Tượng pháp, Thiền định được thành tựu. Một vạn năm thời Mạt pháp Niệm Phật được thành tựu”.
Hiện nay đã vào thời kỳ Mạt pháp được hơn một nghìn năm.
d) Lời Phật dạy trong Kinh Pháp cú: “Không làm những việc ác Nên làm những việc lành Thanh tịnh tâm ý minh Là lời chư Phật dạy”
Con người luôn phải chịu tám khổ từ vô thủy kiếp đến nay mà chưa từng biết. Tám khổ là: Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, yêu nhau mà phải xa nhau khổ, oán ghét nhau mà phải sống chung, sống gần khổ, cầu không được khổ, ngũ ấm si thịnh khổ. Bởi thế Phật mới giáng sinh để mở đường diệt khổ cho chúng sinh. Giúp chúng sinh giải thoát khỏi sự trói buộc giam hãm trong biển khổ luân hồi, từ vô thủy kiếp đến nay. Đức Phật trụ thế 49 năm dạy chúng sinh. Cuối cùng Phật nói: “Ta chỉ dạy một điều khổ và diệt khổ”.
Phật dạy con người “Không làm những việc ác.
Nên làm những việc lành”
để khi chết được sinh lại làm người, khỏi phải đọa lạc vào ác đạo. Nhưng làm lành lánh ác trong thời kỳ Mạt pháp đâu có dễ dàng, vì tâm chúng sinh quá mê lầm sinh ra phiền não tham sân, thúc đẩy thân khẩu gây quá nhiều ác nghiệp, làm sao mà tránh khỏi đọa lạc được. Trong Niệm Phật Tông Yếu, Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy “Làm lành lánh ác là lời răn chung của chư Phật. Nhưng hạng phàm phu thời Mạt pháp chúng ta thường làm ngược lại! Nếu tự mình không nương vào Di Đà Bản nguyện thì e rằng khó ra khỏi luân hồi sinh tử”. Ngài còn dạy: “Tất cả Phật Pháp dùng để chế phục điều ác. Vì hạng phàm phu ngu si không dễ gì làm được, nên khuyên niệm Phật để diệt tội”.
Cho dù “Không làm những việc ác. Nên làm những việc lành” được đi nữa cũng chỉ có chút phúc báo sinh lại làm người. Nhưng vẫn bị trói buộc mãi trong biển khổ luân hồi sinh tử mà thôi.
Vậy chúng sinh phàm phu muốn giải thoát khỏi biển khổ luân hồi sinh tử trong thời kỳ Mạt pháp này thì phải thực hiện lời dạy của Phật: “Thanh tịnh tâm ý mình”. Muốn thanh tịnh tâm ý mình thì phải sinh về cõi Tịnh độ của đức Phật A Di Đà. Muốn sinh về cõi Tịnh độ của đức Phật A Di Đà thì phải tu Pháp Môn Niệm Phật là pháp tha lực.
Y vào kinh Phật và lời Tổ đã trích dẫn ở trên, rút ra kết luận:

- Trong thời kỳ Mạt pháp, Pháp môn Niệm Phật là pháp môn duy nhất, Phật độ chúng sinh phàm phu thoát khỏi biển khổ luân hồi sinh tử và tu tiếp thành Phật.
- Pháp môn niệm Phật lại là pháp môn khoa học hiện đại về hào quang năng lượng trí tuệ Phật nên hợp thời, hợp với căn cơ của chúng sinh trong thời kỳ khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển như hiện nay và sau này.
Vì thế Pháp Môn Niệm Phật chính là con đường tu hành thành Phật của chúng sinh. Cho nên trong kinh Nguyệt Đăng Tam Muội Phật Thích Ca nói: “Tất cả chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại, trong mười phương ba đời đều y Pháp Môn Niệm Phật mà chứng được đạo Giác Ngộ Vô Thượng’’ là như vậy.
Với tâm nguyện tha thiết, muốn được chia sẻ với bạn đồng tu về Pháp môn Niệm Phật và những độc giả có nhân duyên với Phật Pháp. Tôi mạnh dạn biên soạn bài này. Đề tài thì quá lớn mà khả năng về kiến thức khoa học và nhận thức về Phật pháp của tôi còn yếu kém. Nhờ vận dụng những điểm thuộc phần khế lý trong kinh Phật và chuyên cần tha lực niệm Phật mới có thể viết được như vậy. Mong các bạn đồng tu và quý độc giả góp ý kiến để tôi đính chính lại những điểm còn thiếu sót. Hy vọng có thêm nhiều bài viết về đề tài này để cho mọi người hiểu về đức Phật, Đạo Phật và Pháp môn Niệm Phật. Phát tâm cùng tu hành để cùng sinh về cõi Tịnh độ tức Tây phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Đó là điều mong muốn tha thiết nhất của tôi vậy.
Nếu có được chút công đức biên soạn, xin đem hồi hướng cho bốn ân, ba cõi, nguyện cùng pháp giới chúng sinh, đồng sinh về Tây phương Cực Lạc.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới, đại từ đại bi, tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.

10 LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI NIỆM PHẬT A DI ĐÀ

Trong Kinh nói: Nếu người trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà, thường xuyên hàng ngày (với Tín, Nguyện, niệm Phật) sẽ thấy đời mình được hưởng mười công đức lợi ích cao quý hy hữu.

1.       Ngày đêm thường được những vị tướng trời có sức oai thần và các quyến thuộc ẩn hình giữ gìn, ủng hộ.

2.       Thường được hai mươi lăm vị Đại Bồ Tát như: Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, … v.v. cùng tất cả các vị Bồ Tát thường giữ gìn ủng hộ.

3.       Luôn luôn được chư Phật ngày đêm hộ niệm. Đức Phật A Di Đà thường phóng ánh sáng nhiếp thọ người đó.

4.       Tất cả các loại quỷ ác, hoặc Dạ xoa, La sát… đều không thể làm hại được và tất cả rắn độc, rồng độc cũng đều không thể làm hại được.

5.       Được khỏi tất cả nạn lửa cháy, nạn nước lụt, kẻ giặc oán thù, dao, tên, lao, ngục, gông cùm, xiềng xích.

6.       Tội lỗi đã gây từ trước, đều được tiêu trừ. Tội giết oan mạng người, người chết ấy nhờ công đức nghe niệm Phật được siêu thoát không còn báo thù nữa.

7.       Ban đêm chiêm bao điềm tốt hoặc thấy Đức Phật A Di Đà sắc thân đẹp tuyệt thù thắng.

8.       Tâm thường hoan hỷ, sắc mặt bóng ngời, khí lực đầy đủ, bất cứ làm việc gì cũng đều được lợi ích tốt.

9.    Thường được tất cả nhân dân trong thế gian cung kính, cúng dường, lễ bái cũng như kính Đức Phật.

10.   Lúc lâm chung, người được: lòng không chút sợ, chánh niệm hiện tiền, thấy Đức Phật A Di Đà cùng các Thánh Chúng Bồ Tát tay cầm đài sen vàng đến tiếp dẫn vãng sanh Tịnh Độ Tây Phương, hưởng thọ sự an vui, đẹp lạ thù thắng, mãi đến tột thuở vị lai thành Phật.

Cư sĩ Như Trụ kính biên soạn Thế danh: Dương Nguyễn Thạch


Địa chỉ: 110 dãy B khu tập thể 3 tầng
Phố Lê Hồng Phong - Quận Hà Đông - TP Hà Nội
ĐT: (04) 33511553



ĐẠO PHẬT VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

Cư sỹ Như Trụ (biên soạn)

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

53 Tràng Thi - Hoàn kiếm - Hà Nội ĐT: 04-37822845 - Fax: (04).37822841 Email: nhaxuatbantongiao@gmail.com

Chịu trách nhiệm xuất bản

Giám đốc - Tổng biên tập

Nguyễn Công Oánh


Biên tập: Lê Hồng Sơn

Trình bày: Văn Chiến

Sửa bản in: Cư sỹ Như Trụ


Đơn vị liên kết: Ông Dương Nguyễn Thạch

Địa chỉ: Số nhà 110 dãy B khu tập thể 3 tầng phố Lê Hồng Phong, quận Hà Đông Hà Nội.



Số lượng in 1000 bản, khổ 14.5x20.5cm. TạiCông ty TNHH In - TM&DV Nguyễn Lâm, 352 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, Q.Thanh Xuân, TP. Hà Nội.

Số ĐKXB: 2536-2016/CXBIPH/01-150/TG. Mã ISBN: 978-604-61-3934-8 QĐXB số: 516/QĐ-NXBTG ngày 19 tháng 8 năm 2016.
In xong và nộp lưu chiểu quý III năm 2016.

nhuphong

Tổng số bài gửi : 19
Location : normal
Registration date : 12/08/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết